Trang chủ / Tư liệu / Phong tục - Tập quán / Phong tục – Tín ngưỡng

Phong tục – Tín ngưỡng

                                              (Sưu tầm từ nhiều nguồn).
MỤC LỤC
I. PHONG TỤC, TIN NGƯỠNG
1. Phong tục
2. Tín ngưỡng
3. Tập quán
4. Nghi lễ thờ cúng
II. THỦ TỤC VÀ TRÌNH TỰ BỐC BÁT HƯƠNG:
III. NHỮNG NGÀY LỄ TẾT CHÍNH TRONG NĂM
1. Tết Nguyên Tiêu
2. Tết Hàn Thực (mồng 3 tháng 3 Âm lịch.)
3. Lễ phật Đản: (15 tháng 4 âm lịch)
4. Tiết Thanh minh (Từ mồng 5 Đến Mồng 10 Tháng Ba)
5. Tết Đoan ngọ (Ngày 5 tháng 5)
6. Lễ Vu lan (Ngày 15 tháng 7)
7. Tết Trung Thu (Rằm tháng 8)
8. Tết Song thập (mồng 10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10 Âm lịch)
9.  Lễ 23 tháng Chạp (Táo Quân)
10. Tết nguyên Đán
LỄ TỤC VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI VIỆT
I. NGHI THỨC VÀ CÁC LỄ VÒNG ĐỜI
1. Lễ cúng Mụ
2. Nghi Lễ cưới hỏi ngày nay
3. Lễ tục Tang ma của người việt
4. Cách tính trùng tang và xem ngày tẩm liệm chôn cất
5. Một số vận dụng xem tuổi, xem ngày cơ bản
5.1.Tính tuổi Kim lâu (cưới hỏi, làm nhà)
5.2.Tính tuổi Tam tai
5.3.Tính tuổi Hoang ốc, Địa sát, Thọ tử (Vận dụng khi làm nhà)
5.4.Tính tháng đại lợi khi cưới hỏi
6. Một số Quan niệm Nho giáo được xem là chuẩn mực con người
II. VĂN KHẤN NÔM CÁC NGÀY TẾT LỄ
III. VĂN KHẤN TANG LỄ (đang hoàn thiện)

PHONG TỤC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

I. Phong tục – Tín ngưỡng
1. Phong tục.

Toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng. Phong tục không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó cũng không tùy tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững. Phong tục của một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí của một dòng họ và gia tộc, thể hiện qua nhiều chu kì khác nhau của đời sống con người.
Hệ thống các Phong tục liên quan tới vòng đời của con người: Khi sinh ra, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ,tang ma, cúng giỗ… Hệ thống các Phong tục liên quan đến chu kì lao động của con người,  với cư dân nông nghiệp: làm đất, gieo hạt, cấy hái đến thu hoạch, với ngư dân: theo mùa đánh bắt cá… Hệ thống các Phong tục liên quan tới hoạt động của con người theo chu kì thời tiết trong năm: mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông. Phong tục là một bộ phận của văn hoá, có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương, nó ảnh hưởng, thậm chí chế định nhiều ứng xử của cá nhân trong cộng đồng. Cùng với sự phát triển của xã hội, một số Phong tục không còn phù hợp với thời đại mới, bị đào thải, đồng thời một số Phong tục mới được hình thành.
            Tóm lại, phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo.

2. Tín ngưỡng

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộcdân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo. Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” – cái đối lập với cái “trần tục“,cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Niềm tin vào “cái thiêng” thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người.
Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm “tôn giáo” và “tín ngưỡng”. Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới (phổ quát).
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo có hệ thống giáo lýkinh điển… được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu việnthánh đườnghọc viện… có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờchùathánh đường…, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoạithần tíchtruyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ.

3. Tập quán

Phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi. Trong những tình huống nhất định, Tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hoá. Tập quán  hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt.

4. Nghi lễ thờ cúng

Cho đến nay, chưa tìm thấy tư liệu nào chỉ rõ việc Thờ, Cúng, Lễ, Bái được bắt đầu từ bao giờ, khởi nguồn từ đâu? có thể nói nó hiện hữu cùng với sự có mặt của con người ngay từ thuở sơ khai và đồng hành với cùng với cuộc sống của chúng ta chưa biết tới bao giờ.
Tế lễ thờ phụng được hình thành, bổ sung, hoàn thiện, lưu truyền trong lòng dân nên đương nhiên có dị biệt từng vùng miền, dòng họ. Song giống nhau ở mục đích, tác dụng, nơi tiến hành. Với người Việt, đã trở thành “Lễ nghi phong hóa”, tức là cách thức bày ra trong sự cúng tế cho được trật tự, trang nghiêm, kính cẩn đã thành phong tục tập quán của cả dân tộc. Đó là vấn đề Tâm linh, là điều thiêng liêng thấm vào máu thịt mỗi người.
Trong xã hội Việt từ cổ đại đã tồn tại mối quan hệ sâu sắc xây dựng trên cơ sở huyết thống.Do vậy, việc thờ cúng, lễ bái đã được chắt lọc từ ngàn đời, được hấp thụ tinh hoa từ các tôn giáo và lân bang trở thành một trong những Gia bảo tinh thần đáng quý của Tổ Tiên để lại mà lớp hậu sinh cần coi trọng, tất nhiên có cải tiến cho phù hợp với thời đại.
Ngoài thờ Tổ tiên những người theo Phật giáo hay không theo tôn giáo còn thờ Thần linh ( các Đấng thiêng liêng trong thế giới vô hình); thờ Phật ; Thổ công – Thổ địa – Thổ kỳ ( ba vị Thần coi việc nhà cửa trong mỗi gia đình – Định Phúc Táo Quân).
Do vậy, muốn phục hồi, phát huy giá trị tốt đẹp vốn có của nó, từng người, mỗi gia đình, dòng họ… cần có những hiểu biết nhất định sẽ vừa tránh mất tiền, vừa tránh vô tình làm giảm giá trị truyền thống lại giúp ích được nhiều cho bản thân, gia đình trong cuộc sống, công việc.
Khổng Tử trong Chương 第十九章 “Hiếu là nối chí cha ông” khi bàn về lòng hiếu thảo sáng suốt của Võ Vương 武王 và Chu Công 周公, cũng như phương pháp hữu hiệu mà các ngài đã dùng để cải hóa bàn dân đã nói:  事死如事生, 事亡如事存, 孝之至也: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã”. Nghĩa là: Thờ phụng lúc chết như thờ phụng lúc sống, thờ phụng khi mất như thờ phụng khi còn, mới là chí hiếu vậy. Mà đã “Thờ” thì phải “Cúng”, phải có “Lễ, Bái”. Đây là “Đạo hiếu” (H: 孝道,A: The duty of filial piety, P: Le devoir de la piété filiale), là vấn đề trọng đại của mỗi người, gia đình, gia tộc, tôn giáo!
Tín ngưỡng, phong tục thờ cúng tổ tiên hay có người đã gọi là “Đạo Ông Bà” là tục lệ thờ cúng những người đã chết, đặc biệt là ông, bà, cha, mẹ của nhiều dân tộc Đông Nam Á và đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt. Hơn nữa, dân gian tin rằng “Hữu căn hữu kiếp” 有根有劫, có gốc rễ có kiếp sống, tức là có kiếp sống hiện tại là do gốc rễ của các kiếp sống trước tạo nên. Do vậy khi thành danh, có của ăn của để càng nhớ và cần báo ân tiền nhân.
Ngoài Tổ tiên, người Việt còn tin rằng các đấng siêu linh là Thần, Thánh, Phật, Trời cũng luôn ngự trị, theo sát độ trì cho mình trong mỗi công việc! Do vậy để tưởng nhớ Công Đức tiền nhân và đấng bề trên mà mình đã dâng trọn niềm tin cũng như kêu cầu khi cần sự trợ giúp của các “Đấng cao xanh” mà họ duy trì, quan tâm đến việc THỜ CÚNG LỄ BÁI. Đó là vấn đề Tâm linh, làniềm tin rằng người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau, là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm, cõi thực và cõi hư.
Hơn nữa ngay cả các nước công nghiệp phát triển nay ở đâu mà không còn Tôn giáo, Đức tin ? ở đâu cũng có đền, đài, tượng…; năm nào mà có những ngày Lễ Kỷ niệm (Quốc khánh, Danh nhân, Sự kiện…). Mà trong các dịp đó thế nào chẳng có chào cờ, diễn văn, đón nhận phần thưởng; sự kiện lớn còn có cả diễu hành, duyệt binh trọng thể và sau phần “Lễ” là phần “Hội”. Thực chất đó cũng là hoạt động “THỜ CÚNG LỄ BÁI” song đã được “văn minh” hoá, “quốc gia hoá” và do chính quyển chỉ đạo tiến hành. Còn việc Thờ, Cúng, Lễ, Bái tại gia, tại cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là do người dân tự giác duy trì theo tập tục truyền từ bao đời, không lý gì lại không coi trọng điều thiêng liêng đầy tính nhân văn này.
Việc Thờ phụng, lễ bái được chăm lo bởi ai cũng tin rằng việc đó mang lại lợi lạc cho đời sống của mỗi người, mỗi gia đình, gia tộc, tôn giáo, làng xã, quốc gia. Suy cho cùng, đó là sự trở về nguồn, để tỏ lòng tri ân, để tu tâm, tích đức và giãi bày khi gặp trắc trở của mỗi người.
Thờ nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự tôn kính của mình với tiền nhân và với Thần, Thánh, Phật, Chúa thể hiện rõ đạo lý “Trung, Tín, Hiếu”. Ngược lại, con mà không thờ Tổ Tiên là con bất Hiếu; dân mà không thờ Tổ quốc là kẻ bất Trung; tín đồ mà không thờ đức Giáo Chủ của mình là người bất Tín. Đừng có bảo đó là quan niệm thời phong kiến, ngay cả thời nay những người như thế sẽ là lập dị hoạc bị cô lập trong gia đình vàcộng đồng.
Cúng là dâng lễ vật lên thần thánh hoặc linh hồn người chết, theo tín ngưỡng hoặc theo phong tục cổ truyền.Gọi đủ là “Cúng dường”, đó là danh từ của Phật Giáo, được chuyển ngữ từ hai chữ “Cung dưỡng” 龔养 của tiếng Hoa.
Cúng Dưỡng: nghĩa là cung ứng theo sự nhu cầu về vật chất của những kẻ thiếu thốn và nuôi dưỡng khi họ đói cơm rách áo…
Cúng Dường: (Tiếng Phạm là: Pùjana) nghĩa là dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính, mong cầu ơn trên chứng minh.
Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tín ngưỡng. Nhưng đó không phải là tôn giáo vì không có giáo lý, không phụ thuộc vào quan điểm chính trị…“Đã nói tới tín ngưỡng dĩ nhiên có vấn đề tin và không tin”. Đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên là sự hiển nhiên, không có nghi vấn tin hay không tin. Sự thờ cúng chính là sự gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ linh thiêng. Đối với người Việt Nam, chết không có nghĩa là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn còn lui tới với gia đình. Thể xác thì tiêu tan, linh hồn thì bất diệt.
Giỗ là một buổi lễ, nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt quan trọng nhất trong việc thờ cúng Tổ tiên, nhằm tưởng nhớ đến những người đã mất. Theo tục lệ, ngày giỗ là “chung thân chi tang” có nghĩa là ngày tang trong suốt cả đời người. Mỗi năm vào đúng vào ngày chết của một người là một lần giỗ (còn gọi là Kỵ nhật) thường được tính theo âm lịch. Ý nghĩa của giỗ là để nhắc nhở con cháu về nhưñg người đã đi trước; gắn kết tình cảm của các thành viên trong cùng một gia đình, dòng họ, đôi khi trong nhành nghề. Trong đó “Tổ nghề” là một người có công lớn đối với một nghề nào đó hoặc giúp phát triển hoặc sáng tạo ra nghề đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn.
Không chỉ ngày giỗ, việc khấn cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng Một(朔日,Sóc nhật), ngày Rằm(朔望,Vọng nhật), và các dịp Lễ, Tết. Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử… hoặc gặp điều gì đó trắc trở, người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, che chở, dẫn dắt hậu thế hay để tạ ơn khi công việc thành công.
Với Tổ tiên và những Đấng tối cao vô hình thì sự sinh hoạt ăn uống chỉ bằng “hương hoa” không giống như sự ăn uống của người thường và con cháu cúng dường là đem hương vị của món đồ dâng lên thành kính tưởng niệm để tri ân và báo ân rồi lại “Thụ lộc” chứ có mất đi đâu. Nên không cần mâm cao cỗ đầy, bày vẽ tốn kém, cốt là tấm lòng và cách bầy xếp, khấn cầu.
Việc thờ cúng lễ bái nhằm nhớ và báp ơn những đấng sinh thành, những người đã từng hy sinh, đã giáo hoá tạo nên chúng ta cũng như gây dựng nên cơ nghiệp,Tông Môn,dòng họ của mình hoặc tạo cho ta niềm tin trong cuộc sống.
Đồng thời việc làm đúng đắn này giúp giáo dục con cháu về cội nguồn,  thiêng liêng hóa Tông Đường để tự hào, tiếp nối sự nghiệp hiển vinh dòng họ, môn phái, quê hương, quốc gia….
Việc thờ cúng lễ bái có thể nhận được sự “Phù hộ độ trì” của Tiên Tổ, các Đấng Thần, Thánh đối với những người hành lễ. Khi đó đối tượng được thờ cúng sẽ che chở, bảo vệ, chữa trị cho đối tượng hành lễ khi gặp khó khăn, nguy hiểm, mắc bệnh hay ngăn ta làm điều ác, khuyến khích làm việc Thiện…Đây còn là kết quả của quá trình hoạt động và sử dụng năng lực tâm linh. Nhưng muốn phát huy được tác dụng của THỜ CÚNG LỄ BÁI thì điều cốt nhất là phải có Tâm thành kính, có Đức Tin và Đúng cách.
a/Nhà thờ: Làng xã có Am, Miếu, Ðền, Chùa, Nhà Nguyện, Nhà Thờ, Toà Thánh…Gia đình, gia tộc có nhà thờ họ…là những công trình kiến trúc dùng để thờ cúng và tiến hành việc Lễ bái. Với Việt Nam ta là nước duy nhất thờ Quốc Tổ,đó là khu vực Đền Hùng.
b/Từ đường:Là nhà thờ chung của một dòng họ, nhánh họ. Với mỗi gia đình việc thờ cúng ông bà, bố mẹ thường thực hiện tại nhà Trưởng nam hoặc người Lập tự và thực hiện đúng kỉ niệm ngày mất. Nay do con cái thường ở xa nơi sinh thành và bận nhiều việc nên các năm thứ 5, 15, 25…gọi là giỗ chẵn, năm thứ 10, 20, 30…gọi là giỗ tròn sẽ làm lớn hơn, con cháu đông đủ; các năm khác con cháu ở xa có thể thực hiện nghi thức giỗ vọng hay có thể luân phiên từng nhà, từng khu vực để anh em thêm gần gũi.
            Nếu Chùa, Đền, Miếu, Phủ, Am thiên về tính Âm, là “vãng sinh đường” cho khách thập phương được đặt ở nơi u tịch, thâm nghiêm, xa chỗ quần cư, thì Từ đường hay lại mang tính Dương, nên dựng nơi gần con cháu.
c/ Gian thờ: Đối với người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo: hầu như gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà. Bàn thờ được đặt trong gian thờ. Bản chất trường khí phòng thờ thuộc tính âm, hướng nội, không ưa sự phô trương. Ngay cả trong ngày giỗ hay tết thì thờ cúng cũng là việc riêng của gia đình đó, người ngoài muốn đến thắp nén nhang phải xin phép gia chủ. Về ngũ hành thì bàn thờ thuộc hành Hỏa và Mộc là hai hành hướng lên cao và cần sự chăm sóc mỗi ngày lại mang tính hướng nội, không cần phải đặt ngay trong phòng khách và theo phong thủy tốt nhất là đặt phòng thờ ở tầng áp mái. Hoặc  đặt nơi trang trọng và cùng hướng hợp mệnh chủ.
            Trong nhà ở dân gian truyền thống, bàn thờ cố định tại Trung Cung (khu vực trung tâm của nhà). Bước vào cửa chính có thể gặp bàn thờ và bộ bàn ghế tiếp khách hay chiếc sập ở gian giữa. Điều đó trở nên quen thuộc, hài hòa với cấu trúc không gian nhà ở truyền thống vốn có hàng hiên và sân vườn bao bọc.
            Tùy theo hoàn cảnh gia đình mà cách xếp phòng thờ, bàn thờ ở vị trí nào trong nhà cần linh hoạt phù hợp trên tinh thần trang nghiêm, ít bị ảnh hưởng bởi các sinh hoạt khác.
d/Ban thờ:Như một lẽ bình thường, ai ra ở riêng cũng lập ban thờ và khi chuyển đến nhà mới việc lo đầu tiên là chuyển Bếp, tiếp đến là bàn thờ sau mới tính đến những việc khác.
Về kiểu dáng, có loại bàn thờ có 4 chân (với nhà có gian thờ riêng), loại bàn thờ gắn trên tường (với gia đình ở tập thể, chung cư) hay đặt trên nóc tủ chè, tủ li…Hoặc ngày nay, nhiều gia đình, dòng họ hay cả Đền, Chùa, Miếu đã xây một cái bàn thờ bằng bê tông, lát gạch men, dưới gầm bàn thờ là ngăn hộc đựng lễ vật…
Về Công năng, ngoài bàn thờ Gia tiên, có nhà thêm bàn thờ Thần linh, ban thờ Phật, ban thờ Thần tài, thờ Thổ công, thờ Bà Cô- Ông Mãnh, ban thờ Mẫu, ông Hoàng, bà Chúa, các Cô-Cậu, thờ Tiền chủ…. Nhưng nhiều nhà chỉ làm ban thờ chung như gia đình tôi. Việc bố trí ban thờ chung hay các ban thờ riêng rẽ cần hợp cách để đảm bảo tôn nghiêm, tránh thất thố.
-Ban thờ Phật: Thường được lắp đặt nơi cao nhất trong phòng thờ của gia đình, trên bàn thờ có ảnh của vị Phật mà mình muốn thờ (Thông thường các tín đồ chỉ thờ ảnh Phật, các Thày hay Sư mới thờ tượng). Chính giữa có bát nhang hay lư trầm. Bên cạnh có bình hoa, đĩa trái cây, chum nước, cặp nến hay đèn. Tuyệt đối không được đặt đồ lễ mặn và giấy tiền vàng trên bàn thờ Phật. Khi cúng phải dùng đồ chay.
-Ban thờ Thần linh: Thường được đặt chung với bàn thờ Gia tiên. Bát nhang thờ Thần linh đặt chính giữa và cao hơn các bát nhang còn lại. Đằng sau có bài vị thường chỉ có một chữ “Thần” 神 hay 4 chữ “Thần Tiên Linh ứng”神仙灵應.
Trước bát nhang để 3 chén nước trên cùng một cái khay bằng sứ dài. Về cuối năm hay đầu năm, người ta thường cúng một bộ đồ quan Thần linh bao gồm mũ, áo, hia, ngựa theo ngũ hành (Vàng, trắng, đen, xanh, đỏ) và 1000 vàng hoa theo màu bộ quan Thần linh. Thờ Thần có thể cúng mặn như xôi, gà…
-Ban thờ Gia tiên: Thờ những người đã mất trong dòng họ gia đình mình.
Một số chú ý:
– Không được đặt bàn thờ Gia tiên cao hơn bàn thờ Thần, Tiên.
– Không được thờ Quan Âm và Quan Đế (Quan Vân Trường) cùng một nơi hay đối diện nhau.
– Không được kê giường ngủ đối diện với bàn thờ.
– Không được kê bàn thờ sát nhà tắm, đặt ở lối đi.
– Không để Bàn thờ đặt trên nóc tủ, bởi mở tủ luôn động.
– Kích thước bàn thờ nên đặt ở cung có năng lượng tốt theo Thước Lỗ Ban, tránh rơi vào cung Tử biệt, Ly hương, Bệnh lâm…Hiện có mấy loại thước Lỗ Ban nhưng khi làm bàn thờ phải dùng thước đo đồ đặc. Kích thước tốt có thể là: rộng 60,5 cm (益利Ích lợi, Hoành tài); Dài 87 cm (Tài đức, 喜事Hỉ sự); cao 1,53 (Quan, 六合Lục hợp).
            Về Bài trí ban thờ: Tùy gia cảnh mà thông thường trên bàn thờ có thể là Tam sự (bát hương, hai cây đèn, tam sơn đặt rượu, nước và trầu cau) hay Ngũ sự (bát hương, hai cây đèn, lọhoa, mâm ngũ quả, tam sơn đặt rượu, nước và trầu cau). Cách xếp đặt các tự khí 祀器 trên cũng có nhiều quan niệm với mỗi vùng miền, gia đình.
Rất nhiều gia đình đặt ban thờ Thân linh và Gia tiên chung, thường khí đó có 3 bát nhang, ý nghĩa như sau:
            Bát nhang thờ Thổ Công-Thần linh:Đặt cao hơn, ở chính giữa.
            Bát nhang thờ Gia tiên:Đây chính là thờ “九玄七祖”. Bát nhang Cửu Huyền Thất Tổ nội ngoại tôn thân này được đặt ở phía tay phải người đứng lễ, hay tay trái từ trong bàn thờ nhìn ra.
            Bát nhang Bà Cô – Ông Mãnh Tổ 婆祖 翁猛姑 dùng để thờ người phụ trách toàn bộ mọi việc thuộc về tâm linh của gia tộc, được đặt ở phía bên tay trái người cúng hay bên tay phải từ trong bàn thờ nhìn ra.
 -Ban thờ Bà cô Ông mãnh riêng: Bà cô ông mãnh là từ mà dân gian dùng cho những người chết trẻ, chưa lập gia đình. Người ta cho rằng vì chết trẻ nên bà cô ông mãnh rất linh thiêng. Nếu cảm thấy “hợp” người thân nào thì sẽ phù hộ độ trì rất nhiều. Nếu thờ cúng bà cô ông mãnh không đến nơi đến chốn sẽ bị quở phạt. Bà cô ông mãnh lẽ ra cũng nên thờ cúng với tổ tiên, nhưng dân gian quan niệm rằng bà cô ông mãnh tuổi thấp nên chưa thể hưởng hương hoa cùng các cụ đời trước được. Giống như trên cõi dương gian, trẻ con chỉ ngồi riêng một mâm khi ăn giỗ nên bà cô ông mãnh cũng được thờ riêng 1 bàn thờ.
Nếu người cúng ngang hàng với bà cô ông mãnh thì chỉ lâm râm khấn mà không cần lễ. Nếu thuộc hàng dưới thì phải khấn và lễ. Khi gia đình gặp chuyện về sức khỏe, vật chất… người ta cúng bà cô ông mãnh để được phù hộ độ trì cho mọi sự được hanh thông và tốt hơn.
– Bàn thờ người mới chết: Những người mới mất chưa được thờ chung với tổ tiên mà được lập một bàn thờ riêng tại gian thờ hoặc gian nhà ngang. Được bài trí tương đối sơ sài: một bát nhang, bài vị (hoặc ảnh), lọ hoa, chén nước, ngọn đèn… Trong vòng 49 (終七,tức lễ Chung thất) ngày, người ta đều thắp hương cơm canh trước khi gia đình ăn cơm, mời người mới mất thụ hưởng gọi là cúng cơm (朝夕面, Triêu tịch diện). Lúc này, linh hồn người chết còn quyến luyến người thân, “hồn vía còn nặng” chưa thể siêu thoát được, vẫn còn luẩn quẩn quanh nhà. Những người sống không muốn tin vào sự thật là họ vừa mới mất đi một người thân, làm vậy để dịu nỗi buồn. Nhưng có nơi thủ tục này thực hiện vào sau 100 ngày (卒哭,tức lễ Tốt khốc nghĩa là thôi khóc).
Sau 49 ngày, bát nhang người mới mất sẽ được rước lên bàn thờ tổ tiên. Sau lễ trừ phục (còn gọi là đàm tế 除 服) bàn thờ người mới mất sẽ được loại bỏ cùng những đồ thờ riêng, đưa ảnh chân dung và bát nhang lên bàn thờ tổ tiên, đặt hàng dưới. Trường hợp không có bàn thờ tổ tiên thì sẽ vẫn giữ lại như cũ, chỉ cần yết cáo tổ tiên lên bàn thờ tổ.
– Ban thờ Thần Tài và Ông Địa nên đặt ngay tại lối vào chính và ở dưới đất vì việc thắp nhang, nhất là nhang thơm, có tác dụng xua đuổi không khí ẩm ướt, côn trùng vào những buổi sáng sớm hoặc chiều tối (là khoảng thời gian chuyển tiếp Âm Dương, ánh sáng nhá nhem, vi khuẩn nhiều và độ ẩm tăng) đồng thời theo dân gian thì như vậy sẽ “nghênh tiếp Thần Tài” được trực tiếp hơn. Bàn thờ này mới phổ biến vài năm nay và chủ yếu ở các gia đình có kinh doanh.
e/Sắm đồ lễ:Những vật phẩm bầy ra khi thờ cúng còn được gọi là “lễ vật” tượng trưng Tam bảo của con người là: Tinh (thể xác), Khí (chân thần), Thần (chân linh).
Vật không thể thiếu là nén hương, cách thắp hương thành tâm nên mới gọi là “Tâm hương” và luôn thắp với số lẻ, khi cúng lễthường có nến, nước, rượu, hoa quả, trầu cau, gạo, muối, cơm canh, vật phẩm mà khi sống người hưởng giỗ ưa thích cùng với những đồ tế lễ khác như tiền Địa phủ và mã (quần áo đồ dùng làm bằng giấy).  Sau khi tàn tuần hương, đồ vàng mã và tiền âm phủ được đem đốt, được gọi là “hoá vàng”, còn chén rượu cúng thì đem rót xuống tàn vàng. Tục truyền rằng làm như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế.Đó được cho là sự hòa quyện Nước-Lửa (âm dương) và Trời-Đất-Nước (Tam Tài) mang tính triết lý sâu sắc.
To nhỏ tùy điều kiện nhưng bữa cúng cũng phải có chén cơm xới đầy có ngọn(úp lồng một cái chén khác lên trên gọi là chén cơm lồng), cùng trứng gà luộc đã bóc vỏ để trên đĩa với một ít  muối. Có lẽ vì thế mới có tên cúng giỗ là “cúng cơm”. Cócâu thành ngữ “Vô vật bất linh” 無物不, cũng là nói về việc cầu cúng, không có lễ vật thì cầu không thiêng. Đồ mặn sau khi hạ lễ sẽ được mọi người dự cúng “thụ lộc”.
Trong việc Thờ, việc Cúng, việc Giỗ thì làm to hay nhỏ, đồ lễ nhiều hay ít không quan trọng mà cốt là “Lễ bạc tâm thành” 禮薄心誠 lễ vật đơn sơ nhưng lòng thành thật tín ngưỡng và thực hiện đúng nghi thức mới có hiệu quả.
Nghi thức là cách thức làm lễ cho đúng phép trong thờ cúng tuy không quá cầu kỳ nhưng đã được quy định rõ ràng trong các tài liệu Thọ Mai Gia lễ
f/Cách thứctiến hành: Trên bàn thờ đèn được thắp trước, sau đó là thắp nhang rồi mới sắp đặt đồ lễ. Khi đồ lễ đã đủ và đặt lên ban thờ, gia trưởng quần áo chỉnh tề, xem xét và rà soát lại các lễ vật có đầy đủ rồi mới bước vào chiếc chiếu trải trước bàn thờ, lễ bốn lạy, quỳ xuống, hai tay chắp lại vòng ngang trán. “Cúc cung bái” là cúi mình lạyxuống.
Một trong hai người chấp sự, thường là em hay con cháu gia trưởng, đứng hai bên bàn thờ, lấy ba nén hương châm lửa thắp, đưa cho gia trưởng vái một vái dài rồi trao lại đem cắm lên bát hương. Đó là “Tiến tước”.
 Người chấp sự thứ hai mở nút bình rượu, rót rượu lên ba chén để trên đài thực hiện nghi thức “Tiến tửu” xong đó rồi gia trưởng làm lễ khấn.
Hiện nay, do trang phục, do không gian thờ cúng…thường gia trưởng tự thắp hương (luôn là số lẻ) cắm vào bát hương, lui ra đứng trước ban thờ vái 3 vái rồi đọc văn khấn. Khi khấn xong lễ 4lạy thêm 3 vái(gọi là 4 lễ rưỡi). Tiếp theo các thành viên khác trong gia đình đến trước ban thờ  lễ 4 lễ rưỡi. Nghi thức 4 lễ rưỡi thực hiện gồm4lạy và 3 vái.
Khách đến dự, con cháu cử người nhận đồ lễ đặt lên ban thờ, đứng đáp lễ; khách thực hiện 4 lễ rưỡi  rồi quay sang vái người đáp lễ.
Người Việt ta có câu: “Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó”, do vậy cần phải hiểu về tài ý nghĩa và tác dụng của lễ bái
g/Lễ Bái:
+  Lễ Về ngữ nghĩa, “Lễ” 禮 chính là khuôn mẫu, là cách bày tỏ kính ý bằng cử chỉ hay bằng cúng tế, nó còn là những quy tắc nhất định về sắp đặt, trình tự trong Quan (冠chào mừng đứa bé mới ra đời), Hôn (婚lễ thức hôn nhân của gia đình),Tang (喪nghi thức tiễn đưa một người về chầu tiên tổ)và Tế (祭hình thức tế lễ để tưởng nhớ ông bà tổ tiên) nhằm thể hiện sự tôn kính.
+  Về nội dung, nó bao gồm:
            Hình thức: là sự trang trí, trưng bày cho một biểu tượng mà qua đó ta có thể phân biệt được “Lễ” đó thuộc về gia tộc, sắc tộc, tôn giáo, Quốc gia nào.
            Lễ Phẩm: là những phẩm vật mà con người muốn dâng lên các vị mà họ tôn thờ, hay mong cầu một sự trợ giúp và thông qua đó người ta có thể biết được tính chất của buổi lễ (tức mục đích của nghi lễ) mà kẻ hành lễ mong cầu.
+  Nghi thức: là phương cách hành Lễ tùy theo hình thức bài trí và phẩm vật dâng lễ mà qua đó người ta có thể phân biệt được tính chất của buổi lễ cũng như nhận biết được sắc thái của những thành phần mà người tổ chức thuộc về sắc dân nào, dân tộc nào, quốc gia nào, và mục đích của buổi lễ mong cầu những gì. Và phần nghi thức này luôn luôn bao gồm những nghi thức “Bái”.
            + Bái:Trong quá trình tiến hành nghi thức Lễ có hành vi “Bái”. “Bái” là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất trước những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính; là hành động của con người thực hành khi tham gia trong buổi Lễ.
            Mỗi buổi Lễ có những phương cách “Bái” riêng, tùy theo truyền thống hay có cải cách, sửa đổi theo thời gian, theo sở thích của người chủ xướng đề đặt thêm. Nhưng có những phương thức như sau:
             Ðứng Bái: (Vái, Lạy) đứng làm lễ và tùy theo phong tục tập quán khác nhau mà động tác Bái có khác nhau.
            Quỳ Bái: (Lạy) qùy làm lễ nhưng cũng tùy theo phong tục tập quán mà động tác thực hành cũng khác nhau.
            Ngồi Bái:(Tọa Tụng,Vái, Lạy) với nhiều cách thực hành khác nhau theo phong tục tập quán riêng.
            Hành Bái: (Bái, Lạy trong những nghi thức rước lễ) cũng có những cách thực hành khác nhau, tùy theo hình thức lễ lạc, tùy theo mỗi tôn giáo.
            Ngoài ra còn có những thể cách kết hợp các phương thức trên như đứng lên quỳ xuống mới thực hành xong một động tác của Bái v.v…
            Theo quan niệm Khổng giáo: Trước hết con người đứng thẳng là tiêu biểu cho cái Uy của kẻ sĩ. Hai tay Cung Thủ (nắm lại nhau) là tiêu biểu cho cái Dũng của Thánh Nhân. Trước khi lạy, hai tay Cung Thủ đưa lên trán, rồi sang bên phải, cuối cùng đưa sang phía trái là tiêu biểu cho Tam Tài (Trời, Đất, Người).
            Khi lạy, hai tay Cung Thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự Tôn Kính mà không mất tư thế cái Uy Dũng của kẻ sĩ Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự Cung Kính những bậc mà mình lễ.
            Theo quan niệm Phật giáo: Ý nghĩa và giá trị Lễ Bái được rất nhiều kinh luận đề cập. Theo đó, sự lễ bái cũng là một trong những phương pháp tu tập để diệt phiền não mà bổn phận người con Phật phải hành trì thường xuyên trong hằng ngày để được giải thoát tất cả nghiệp chướng khổ đau sanh tử và sớm chứng quả Bồ Đề Niết Bàn Tịch Tịnh.
h/Cách Vái, Lạy:Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn. Người ta thường nói “khấn vái” là vậy. Trong dân gian, về mặt hình thức có ba cách lạy phổ thông:
            1. Ngã Mạn Lễ: là người lạy Phật hoặc lạy Ông, lạy Bà, lạy Tổ Tiên chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ (sợ bạn bè chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất trung), nhưng thâm tâm của họ không muốn lạy (sợ mất thể diện, sợ bẩn quần áo) do dó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không có chút nào lễ độ cung kính cả. Theo cách này, người hành lễ: Đầu lạy xuống không sát đất và đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả cho qua việc.
            2. Cầu Danh Lễ: nghĩa là người lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như lấy lòng quần chúng, người đó lễ lạy vì mọi người chứ thật ra không phải lễ lạy cho chính họ. Khi đó  họ siêng năng lễ lạy để cho mọi người cho rằng mình có đạo đức, thượng cấp nâng đỡ và quần chúng ủng hộ. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành và ngược lại, khi không có ai, họ lại biếng nhác, cẩu thả trong việc lễ lạy.
            3. Thân Tâm Cung Kính Lễ: là người lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính và sự Lễ Bái mới có giá trị. Khi đó, người hành lễ phải có đức tin, có sự cảm ứng rất dễ dàng với chư Phật, với các Thánh Hiền, với Ông Bà, Tổ Tiên. Người lễ lạy muốn cho Thân và Tâm đều cung kính thì nên theo cách lạy “Ngũ thể đầu địa Lễ” của Phật Giáo và phải lạy thường xuyên để cho cung cách được thuần thục. Người lễ lạy đã thuần thục thì mới có khả năng nhiếp phục Tâm loạn động của mình. Thân Tâm Cung Kính Lễ là cách lạy cơ bản của Phật Giáo về mặt hình thức mà người xuất gia cũng như kẻ tại gia phải hành trì cho nghiêm túc.
            – Vái:Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.
            – Lạy:   Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Thế lạy truyền thống của đàn ông và thế lạy của đàn bà khác nhau nhưng đều rất có ý nghĩa, vừa thành khẩn vừa trang nghiêm trang:
+ Thế lạy của đàn ông:  Đàn ông khi hành lễ đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy. Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.
            Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
            Thế lạy của đàn ông có vẻ hung dũng, tượng trưng cho dương nhưng khi mặc âu phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có ai mặc khăn đóng áo dài còn áp dụng thế lạy này trong dịp Tế Lễ lớn. Còn phần đông chỉ đứng vái.
+ Thế Lạy của đàn bà :Khi hành lễ các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
            Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối và không mấy đẹp mắt.
            Số lần lạy và vái đều mang một ý nghĩa rất đặc biệt, nhưng xem ra chưa mấy ai tường, nhất là giới trẻ. Nhiều sách viết về Lễ Bái đều chép rằng:
Ý nghĩa của 2 Lạy và 2 Vái: Hai lạy dùng để áp dụng cho người sống như trong trường hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng điếu, nếu là vai dưới của người quá cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em,…
            Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý nghĩa của ba vái này là lời chào kính cẩn. Nhưng trong trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà quàn, các người đến phúng điếu, nếu là vai trên của người quá cố thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi thì ta vái người quá cố 4 vái.
            Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy (tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống). Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải  lạy 4 lạy.
Ý nghĩa của  3 Lạy và 3 Vái: Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy, tượng trưng cho Phật (là giác, tức là giác ngộ, sang suốt, và thông hiểu mọi lẽ), Pháp (là điều chính đáng, trái với tà ngụy), và Tăng (là trong sạch, thanh tịnh, không nhơ bẩn). Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.
            Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ âu phục, nếu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.
Ý nghĩa của 4 Lạy và 4 Vái :Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Như vậy, bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ.
            Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.
Ý nghĩa của 5 Lạy và 5 Vái :Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung cung. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng Vương, những người trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Hùng Vương là Quốc Tổ, khai sáng giống nòi Việt.
            Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì giờ để mỗi người lạy 5 lạy.
i/Văn khấn:Khi Cúng, Giỗ có văn khấn là thực hiện đạo lý: Ăn có mời, làm có khiến. Lời khấn cốt ở tấm lòng, mộc mạc cốt đủ thông tin: ngày tháng, địa điểm, lý do, thỉnh mời (tên tục, tên hiệu, tên hèm người hưởng giỗ) về hưởng giỗ. Trường hợp văn tế soạn bằng âm Hán cần nói rõ: “Cẩn sớ thượng tấu” (謹疏上奏): Kính cẩn dâng sớ tâu lên Thánh, Thần, Tổ tiên bề trên rõ việc. Việc khấn xin này còn thể hiện đức tin “Hữu cầu tất ứng”有求必應 , có cầu nguyện thì ắt có đáp lại của cổ nhân. Trước khi dừng khấn cần đọc câu: “Cẩn cáo” tức báo cáo với đấng cúng thỉnh một cách kính cẩn.Nếu không tự soạn được có thể sử dụng các bài văn khấn trong các cuốn sách cúng thông dụng
k/Lễ tạ:Sau khi hương đã cháy hết, chủ cúng thắp thêm 3 nén hương nữa khấn cáo việc cúng đã xong xin phép được hóa vàng. Trước đó cần đọc “Cung phần sớ văn” (恭焚疏文) tức xin đốt sớ văn cúng đi.
Sau đó đem đốt vàng mã (do gia chủ sắm và khách mang tới) rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn để khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất, dùng một gậy gẩy đống tro. Việc đó, theo quan niệm dân gian là để xuống Âm phủ vàng mã cúng dâng sẽ biến thành đồ thật và người hưởng giỗ có đòn gánh vận chuyển đồ vật. Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước-Lửa (âm dương) và Trời-Đất-Nước (tam tài) mang tính triết lý sâu sắc. Khi đã hóa vàng hương đèn trên bàn thờ không cần cháy nữa.Gạo, muối trên ban thờ mang rải đều ra quanh nhà.
m/Ăn giỗ:Sau khi cúng, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để con cháu và khách đến cùng ăn. Khi cúng và ăn uống xong đồ lễ còn lại được chia phần cho con cháu, coi như hưởng lộc của tiền nhân.Chính việc ăn uống sau giỗ nên gọi là đi “ăn giỗ”. Sau đó con cháu bàn bạc việc giỗ kỳ sau.
            + Ngày cúng giỗ:Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.Nguyên ngày trước, “Lễ giỗ” gọi là “Lễ chính kỵ”; chiều hôm trước lễ chính kỵ có “lễ tiên thường” (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.
            + Mấy đời tống giỗ:Theo gia lễ: “Ngũ đại mai thần chủ”, hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
            Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, Tằng, Tổ, Phụ (4 đời trên); thân mình và Tử, Tôn, Tằng tôn, Huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (Cao, Tằng, Tổ, Phụ) tức là Kỵ (hay Cao), Cụ,  Ông Bà, Cha Mẹ. Từ bậc “Cao” trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ riêng nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của Thuỷ tổ.
            + Cúng giỗ người chết yểu:Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.
            Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ. Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mân, coi như người thân còn sống trong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất.
            + Giỗ tết, Tế lễ:Quan niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo hoá hữu hình hay vô hình, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương, đều có giống đực giống cái. Ðó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới.
            Ở nước ta, hòn đá trên chùa, cây đa đầu đình, giếng nước, cửa rừng cũng được nhân dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào đó. Người ta “sợ thần sợ cả cây đa” mà cúng cây đa, đó không thuộc tục bái vật. Cũng như người ta lễ Phật, thờ Chúa, quì trước tượng Phật, tượng Chúa, lễ Thần, quì trước long ngai của thần, nhưng thần hiệu rõ ràng, chứ không phải khúc gỗ hòn đá như tục bái vật.
            Ngày nay chỉ còn lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ : bình vôi là bà chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa gì, nhưng bình vôi tượng trưng cho uy quyền chúa nhà, nhà nào cũng có bình vôi. Khi có dâu về nhà, mẹ chồng tạm lánh ra ngõ cũng mang bình vôi theo, có nghĩa là tạm lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ tay làm vỡ bình vôi thì đem mảnh bình còn lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đình chùa, không vứt ở chỗ ô uế.
            Gỗ chò là loại gỗ quí, gỗ thiêng chỉ được dùng để xây dựng đình chùa, nhà thờ. Dân không được dùng gỗ chò làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi theo lũ cuốn về xuôi, nếu có gỗ chò, các cụ còn mặc áo thụng ra lạy.
            Chùa là nơi thờ Phật, cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng công cộng của người Việt Nam từ xưa tới nay, theo phong tục cổ truyền người Việt Nam trong các ngày Rằm, mồng Một, ngày Lễ Tết, cùng những ngày có việc hệ trọng, thường đến Chùa lễ Phật với tấm lòng thành cầu khấn nhờ nghiệp lực vô biên của Phật, của chư vị Bồ Tát, Hiền thánh mà được thiện duyên, gặp may cầu cho được: mạnh khoẻ, sống lâu, tai qua, nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, có con nối dõi, yêu vui thân mệnh, gia đình hoà thuận, hạnh phúc an khang, thế giới hoà bình, văn minh xã hội và ngoài ra không chỉ cầu cho người sống mà còn cầu cho người đã khuất, ở thế giới bên kia được siêu sinh Tịnh độ… Ước vọng chính đáng ấy được thể hiện qua các bài văn khấn.
            Việc sửa soạn đi lễ Chùa, sắm lễ vật để đi lễ Chùa đều có những quy định mà người hành lễ phải tuân thủ là:  Đến dâng hương tại các Chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả…
            Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực Chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi Chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông – Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.
            Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cùng, Lễ Phật tại Chùa. Nếu có sửa lễ này thì chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.
            Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát và cả tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện. Mà tiền, vàng công đức nên để vào hòm công đức đặt tại Chùa.
            Hoa tươi lễ Phật là: hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…
            Trước ngày dâng hương Lễ Phật ở Chùa cần chay tịnh trong đời sống sinh hoạt ngày thường: ăn chay, kiêng giới, làm việc thiện…
            Tại Chùa, cứ đến rằm tháng Bảy thì mọi người sắm sửa lễ vật đến cầu siêu cho ông bà, cha mẹ hay những người đã khuất, thậm chí cho cả cô hồn. Vào tiết này, sắm thêm lễ vật đặc trưng: đồ hàng mã chế tác theo hình vật dụng thường ngày: mũ, áo, xe cộ… nhưng chớ có sắm sửa các hình nhân thế mạng. Ngoài ra còn có lễ vật cúng chúng sinh: cháo lá đa, ngôi, bánh đa, khoai… Tất cả dâng đặt ở bàn thờ Đức Thánh chứ không đặt ở bàn thờ khác hay ban chính điện.
            Riêng với các trường hợp “Bán khoán” hay làm lễ “cầu siêu” thì cần phải sắm sửa lễ vật theo chỉ dẫn cụ thể của vị Tăng trụ tại Chùa.
+  Đến Chùa hành lễ cần theo thứ tự như sau:
            1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.
            2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Chúa xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.
            3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu Chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.
            4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)
            5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.
+  Cách lập linh vị:
Trong phong tục thờ cúng Tổ Tiên thì lễ cúng vong linh người đó khuất vào các kỳ giỗ: Ông, Bà, Bố, Mẹ, Chồng (Vợ) là quan trọng nhất (gọi là Giỗ trọng), Cách Khấn theo linh vị chữ hán nôm như sau:
+ Bố đã chết thì khấn là: Hiển khảo
+ Mẹ đã chết thì khấn là: Hiển tỷ
+ Ông đã chết thì khấn là: Tổ khảo (3 đời tính từ người cúng)
+ Bà đã chết thì khấn là: Tổ tỷ (3 đời tính từ người cúng)
+Cụ Ông đã chết thì khấn là: Tằng Tổ Khảo (4 đời tính từ người cúng)
+ Cụ Bà đã chết thì khấn là: Tằng Tổ Tỷ (4 đời tính từ người cúng)
+ Trên nữa nếu cụÔng đã chết thì khấn là: Cao Tổ Khảo (5 đời tính từ người cúng)
+Trên nữa nếu cụBà đã chết thì khấn là: Cao Tổ Tỷ (5 đời tính từ người cúng)
+ Trên nữa khấn chung là các cụ Tiên tổ. ( Trên 5 đời )
+ Nếu Anh,Em trai đã chết thì khấn là: Thệ huynh, Thệ đệ
+ Nếu Chị,Em gái đã chết thì khấn là: Thể tỷ, Thể muội
+ Nếu Cô Dì, Chú Bác đã chết  thì khấn chung là: Bá Thúc, Cô Di, Tỷ Muội
+ Hoặc khấn chung là Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nội ngoại Gia Tiên.
n/ Đôi điều kết lại:Thờ, Cúng, Lễ, Bái là cần thiết nhưng phải đúng cách, hợp thời, xuất phát từ cái Tâm của mình. Điều quan trong hơn là cần thu thân tích đức. Bởi “ĐỨC”德  là “Đạo đức, kết quả của những việc làm giúp người giúp đời” và “Đức trọng quỉ thần kinh” 德重鬼神驚, tức là người có đạo đức lớn thì ma quỉ và chư Thần đều nể sợ và tôn kính. Hơn nữa “Đức tồn hậu lai” 德存後來, cái đạo đức còn tồn tại đến đời sau nên tích đức là tích cho hậu thế. Nhưng con cháu cũng cần có vốn liếng ban đầu nên cần “Tích kim dĩ di tử tôn” 積金以遺子孫 , chứa vàng bạc để dành lại cho con cháu không hề vô nghĩa. Tất nhiên “Tích tài bất như tích phúc” 積財不如積福 bởi vì tiền bạc có thể bị kẻ ác cướp trộm, còn phúc đức không bao giờ bị cướp trộm được nên gom tiền bạc không bằng chứa phúc đức.
            Tích đức rồi lo luyện tâm, bởi Chân tâm là cái tâm chân thật, trong sạch, sáng suốt, đã cởi bỏ được các vọng tưởng, phục hồi được bản tính của nó, cốt đừng ứng xử kiểu “Phú bất nhân, bần bất nghĩa”. Cổ nhân từng đúc kết kinh nghiệm “Tích cốc phòng cơ” là chứa lúa để dự phòng nạn đói; “Tích y phòng hàn” 積衣防寒 chứa áo phòng khi rét lạnh hay “Tích Đức phòng tai” 積德灾防, “Tích phúc phòng hoạ” 積福防祸!
            Đó chính là thuận theo Luật Nhân Quả: “Tích thiện phùng thiện” 積善逢善 Chứa lành thì gặp lành, tức là làm việc lành thì gặp việc lành báo đáp lại; “Tích ác phùng ác” 積惡逢惡: Chứa dữ thì gặp dữ, tức là làm điều dữ thì gặp việc dữ báo đáp lại.
            THỜ CÚNG, LỄ BÁI đã đi sâu vào tâm thức mỗi người và thực tế đã chứng minh tính bền vững, ý nghĩa nhân văn cao đẹp của mỹ tục này. Qua đó ta có một cái nhìn, cái lối suy nghĩ đúng đắn về THỜ CÚNG LỄ BÁI mà Tổ tiên của chúng ta xây dựng, tích cóp, lưu truyền lại giúp cho ta vững tâm trên con đường tu thân, lập nghiệp, tạo lập gia đình, xây dựng xã hội.
            Với người dân vùng đồng bằng Bắc bộ và những cư dân gốc ở đây thường là đặt 3 bát hương trên đế Tam sơn cho một ban thờ. Ba bát hương này khi đứng từ ngoài nhìn vào thì: Bà tổ cô bên trái, Thổ công chính giữa và Gia tiên bên phải, Trong đó bát hương thổ công bao giờ cũng to hơn 2 bát kia và đặt ở vị trí cao hơn.
            + Công việc bốc bát hương phải nhờ thầy, thầy chùa (sư) hoặc pháp sư. Khi bốc bát hương các Thầy chú nguyện, thỉnh thần linh, vong linh về an nhập. Thực chất đây là việc cung cấp cho các vật thờ cúng một nguồn năng lượng ban đầu và sau này trong quá trình thờ cúng, năng lượng đó ngày một tăng trưởng khiến cho độ linh thiêng ngày càng cao. Đây cũng tương tự như việc Khai quang, Điểm nhãn cho tượng mỗi khi đúc xong, việc này có tác dụng làm tăng linh khí của pho tượng và bát nhang trước khi thờ cúng, nhằm không cho các vong linh hỗn tạp tá vào. Theo dân gian chỉ sau khi hoàn thành công đoạn này thì mới biến một vật từ vô tri trở nên linh thiêng, bát nhang mới có các vị Thổ công, Thần linh, Gia tiên an trú và tạo được linh khí để có thể giúp đỡ, độ trì cho gia chủ.
            +Quy trình bốc bát nhang: Bát hương vốn là vật vô tri (bằng sứ hay bằng đồng) chỉ sau khi thực hiện các thủ tục “bốc bát hương” thì bát hương đó mới có tác dụng làn vật cắm nhang khi thờ cúng. Nếu bát hương không được bốc đúng cách cũng giống như nhà không chủ. Khi đó Thần, Phật, Tổ tiên giáng lâm độ trì thì ma quỷ cũng chen chân theo để quấy phá gia chủ. Khi mua bát hương cần chọn loại  không có chữ  Hán.
Đầu tiên khi mua một bát hương về thì phải rửa qua nước muối rượu gừng có pha chút nước hoa hay thả vào mấy cánh hoa hồng cho thơm để làm sạch những phần hữu hình rồi phơi khô hay đem xông trầm hương. Nước đã dùng đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống. Sau đó lót ở đáy bát nhang một mảnh giấy trang kim vàng (vừa để lót, vừa phòng các đồ yểm trong bát không bị cháy theo khi bát nhang “hoá”).
Bát nhang đã được làm đúng pháp là bát nhang có cốt: Cốt bát nhang có 7 thứ báu (Thất bảo) như vàng, bạc, ngọc, mã não, san hô,…Tối thiểu có 3 thứ: vàng, bạc, ngọc được bọc bởi 1 tờ giấy tráng kim dùng bút đỏ đã được làm phép chú bút, chú giấy, chú mực ghi một số chữ (do Sư thầy ghi, chữ thiên do các vị Thánh ngự ghế viết). Trong bát nhang còn có tiền âm (“Ngũ Lộ Thần tài”), tiền dương màu đỏ mệnh giá mang số 5 (sinh) được gấp thành các chiếc thuyền nhỏ xếp xung quanh khối cốt thất bảo.
Sau đó đổ tro đốt bằng rơm nếp,nhiều người còn dán ra ngoài bát nhang ở chính diện, nơi in hình mặt trời có 2 con rồng chầu vào một mảnh giấy đỏ có viết chữ bằng mực Tàu tên của bát nhang. Sau đó thắp nhang liên tục 100 ngàyđể tạo linh lực.
Sau cùng là đọc Kinh hay Chú Mật Tông, Tiên Gia tùy theo môn phái của Thày để an vị Bát nhang. Khi làm phép lần đầu, người bốc bát hương cắm cây chữ Thọ bằng đồng để thắp hương vòng; cắm 9 hay 3 cây nhang tùy bát của Phật hay các tầng khác. Lúc an vị cần đặt bát hương ngay ngắn sao cho mặt nguyệt (lưỡng nghi) nằm trên trục vuông góc với bàn thờ và theo hướng bàn thờ và Bát nhang chính ở vị trí giữa.
            Chỉ khi hoàn thành các công đoạn này thì bát hương mới chính thức được đưa vào sử dụng làm vật thờ cúng và mới có đủ linh lực.
Bát hương đã bốc xong, gia chủ phải đặt nơi bàn thờ sạch sẽ, không nên để uế tạp. Mỗi khi sắp xếp lại ban thờ (thường vào 23 và 30 tháng Chạp) phải khấn vái, xin phép và chỉ được di chuyển bình hoa, chén nước, đỉnh đồng, đèn,… còn bát nhang, bài vị đã định vị thì không được xê dịch. Khi vệ sinh bát nhang, bài vị phải lấy tay giữ không cho xoay rồi lấy khăn sạch, ẩm, phun rượu cho pha gừng giã nhỏ, nước hoa lau cho sạch.Đồng thời, khi chân nhang quá nhiều cần rút bớt, nhớ để lại 3 hoặc 5 chân. Những chân nhang đã nhổ thì đốt, tro xuống sông suối.
Bát nhang bỏ đi (ví dụ bát nhang của ban thờ vong) cần thả xuống sông suối (tốt nhất là đặt trên miếng xốp nổi), tránh vất nơi uế tạp. Nghiệm ra nhưng người (gia chủ hay vì chức trách) xử lý không đúng với bát hương sẽ gặp sự không may.
Mỗi khi cầu cúng cần mở rộng cửa, thắp đèn trước (khởi động), rót nước, rót rượu (dương cầu âm), rồi thắp hương (phát sóng) và khấn cúng (kêu cầu). Chú ý thắp 3 hay 5 nén hương bởi 3, 5 là số lẻ, thuộc Dương mà Dương thờ Âm là hợp lẽ. Nếu thắp quá nhiều hương sẽ mở đường cho Thập loại chúng sinh đến, tạo ra sự lộn xộn, phiền toái cho Thần, Tổ tiên mình thỉnh cầu. Nhớ rằng khi thắp phải để hương cháy đều, dùng tay phẩy nhẹ cho tắt lửa, không thổi. Khi cắm hương cần cắm cho ngay ngắn mới có tác dụng dẫn lời thỉnh cầu.
Trường hợp bát hương tự nhiên bốc cháy, dân gian cho rằng báo “điềm”, hoá âm là khi chân hương cháy âm ỉ từ trong ra rồi đổ ra xung quanh thường liên quan đến mồ mả, thờ cúng, hoá dương là cháy từ trên xuống có liên quan đến nhà cửa, cuộc sống hằng ngày. Khi đó cần để hoá hết nhưng phòng hoả hoạn.
Nếu đang cầu cúng mà hương tắt cứ để thế mà châm lửa tiếp, không nhổ lên đốt lại bởi khi nhổ lên cắm lại thành hương thừa, mất gốc, cầu cúng mất linh nghiệm. Cổ nhân cho rằng, ngoài lý do hương kém phẩm thì cần phân biệt:
            – Hương tắt phần trên là ở Thiên, liên quan đến nóc nhà, ban thờ…
            – Hương tắt ở đoạn giữa là Nhân, liên quan đến thành viên gia đình;
            – Hương tắt đoạn cuối nghĩ đến Địa, liên quan đến mồ mả, đất cát…
Do hoàn cảnh và tập tục mỗi nơi, xung quanh bát hương còn nhiều việc cần biết. Khi đã đi nhiều, nghe  lắm, chắt lọc thông tin sách vở tôi cũng đã vỡ vạc ra nhiều nhưng có những điều vẫn chưa lý giải nổi, ngẫm ra có nhiều việc mình thực hiện chưa đúng nghi thức lễ tục, nhưng dẫu sao cốtở Tâm thành.

II. Bốc bát hương

Chuẩn bị:- Bát hương
– Cốt bát hương gồm: 1 lá giấy đỏ ghi hiệu thổ công + vàng (nhẫn giả, giấy tiền vàng, tiền đài, hay thất bảo … tùy điều kiện), gói vào giấy trang kim. Tốt nhất là xin cốt hiệu, sớ từ nơi các thầy Sư chùa để các thầy làm phép chú bút, chú giấy, chú mực
– Nước rượu gừng hoặc nước gừng (nước ngũ vị hương, nước vỏ bưởi. . . )
– Tro rơm nếp.
– Hương hoa lễ vật tùy tâm.
Nghi thức1. Sái tịnh và thiết lô hương:
Bát hương mua về lau qua bằng khăn giấy sạch, sau đó lấy khăn thấm rượu rừng và lau trong ngoài bát hương, vừa lau vừa đọc thần chú làm sạch pháp giới:    ÁN LAM XOA HA (7 lần)
Sau khi sái tịnh, đặt cốt bát hương vào và cho tro hoặc cát trắng đầy bát hương.
2. Bái bạch thỉnh Thánh ứng lô hương:
– Sau bước 1, ta đặt bát hương lên bàn thờ, thắp 3 nén hương cắm vào bát hương.
– Thỉnh lời bái bạch như sau:
Nam mô a di đà Phật (3 lần)
–         Conxin lạy Chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
–         Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần
–         Ngài kim niên đương cai thái tuế chí đức Tôn Thần
–         Ngài bản cảnh Thành Hoàng cùng chư vị đại vương
–         Ngài bản xứ thần linh thổ địa.
–         Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân, bản gia tiên sư bản viên thổ công, liệt vị tôn thần cùng các vị thần linh bản xứ cai quản ở trong khu vực này.
–         Con Kính lạy các cụ tổ tiên nội ngoại tiên linh, Bà cô tổ họ. ………..Các cụ Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ, ….. cùng các  vị tổ bá, tổ thúc, tổ cô cùng các vong linh phụ thờ theo tiên tổ, Chư gia tiên Họ……………
 Hôm nay là ngày. ……. tháng. …… năm. ….. tức là ngày….. tháng…..năm. …. (Âm lich).
Tín chủ con là: ……………………………….…….
Tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật gồm: ……………… cùngcác phẩm vật gọi là lễ mọn làng thành dâng bày lên trên án, trước bản tọa chư vị tôn thần kính cẩn tâu trình:
Nay do (Thay đổi chỗ ở, Công việcnhiệm vụ phân công) Tín chủ con đã đến cư ngụ tại đây……………………….
Chọn ngày lành thánh tốt hôm nay tín chủ con xin thực hiện thủ tục lập bàn thờ mới và bốc bát hương mới làm nơi thờ phụng các vị Thần linh, Thổ công cùng chư vị Tôn thần và Gia tiên của tín chủ:
+ Bàn thờ làm bằng gỗ, được sơn son thiếp vàng, mua mới tại chợ.
+ Bát hương bằng đất nung tráng sứ có hoan văn lưỡng rồng chầu mặt
nguyệt, mua mới từ chợ về, đã được sái tịnh bằng rượu……..
+ Cốt bát hương gồm: Cốt hiệu, tiền vàng, tro nếp, gạo, muối…
Kính trình chư vị Thánh tiên, Thổ côn, Thổ địa, Ttáo phủ thần quân
Ngày hôm nay đệ tử thiết lập lô nhang phụng thờ bản gia Táo phủ thần quân, tâm hương tấu thỉnh Chư vị giáng lô nhang chứng tâm cho gia trung đệ tử, nhất một lòng, trung một dạ hương khói phụng thờ Chư vị tôn thần, nguyện chư vị giáng phúc trừ tai độ âm, độ dương cho gia trung đệ tử. Kể từ nay tín chủ con xin được rước mời các vị, các ngài ngự trên bát hương và ban thờ mới để tín chủ con được cung kính phụng thờ.
Kính thỉnh bản gia táo phủ thần quân lai giám lô nhang (3 lần)
Cũng nhân dịp này tín chủ con xin phép các ngài cho phép tín chủ con được rước vong linh Gia Tiên Họ. ………………………được cùng về với con cháu và kể từ nay sớm tối Hương linh Gia tiên chúng con được đi về, vào ra ngự trên ban thờ  để cháu con được thờ phụng.
Kính thỉnh Tiên tổ anh linh lai giám lô nhang (3 lần)
Chúng con cầu xin Chư vị minh thần thụ hưởng lễ vật và gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, vạn sự tốt lành.
Chúng con nguyện cầu cho Hương linh các cụ nội ngoại gia tiên siêu linh tịnh độ. Cúi xin các cụ giáng về linh sàng thụ hưởng lễ vật phù hộ độ trì cho con cháu gia đình bính an vô sự, mọi việc tốt lành, công việc chóng thành, cầu mong được toại  nguyện.
Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này, Các  linh hồn y thảo phụ mộc phảng phất nơi đây xin cùng về chiêm ngưỡng tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù trì cho tín chủ con sức khoẻ dồi dào, thịnh vượng an khang. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết có điều lành.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
3. An vị lô nhang, cầu an: Đọc chú đại bi sau 3 lần (Nếu có được thì có thể đọc kinh Dược Sư cầu an)
CHÚ ĐẠI BI
Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da. Ma-ha-tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha, tất đà dạ ta-bà ha. Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. Ta-bà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta-bà ha. Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha.
Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta-bà ha. (3 lần)4. Lễ hoàn:
Sau 1 tuần hương, quan sát nếu thấy thông hương (3 nén đều cháy hết) thì là được, nếu không là chưa được. Nếu thông hương được rồi thì tạ lễ và nên thắp hương mỗi ngày liền đến 3 ngày hoặc 7 ngày hoặc 21 ngày hoặc 49 ngày hoặc 100 ngày v.v. (Tùy theo điều kiện). Có thể thắp hương vòng thông 24/24h hoặc mỗi ngày thắp 1 lần hương tùy điều kiện. Nếu hương cháy không hết thì sám hối chư vị tôn Thánh, thắp hương 1 lần nữa, đọc chú đại bi 3 lần và quan sát xem lần này đã thông hương chưa. Chỉ nên thử lại đến lần thứ 3, nếu qua 3 lần không được thì nên để dịp khác làm.

III. Những ngày Lễ Tết chính trong năm
1. Tết nguyên tiêu

Hay tết Thượng Nguyên là một tết, lễ hội cổ truyền của Trung Quốc vào ngày 15 (ngày rằm) tháng giêngÂm lịch.
            Tết này phần lớn tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Vào ngày này, cũng có gia đình Việt Nam tụ tập ở nhà trưởng họ hoặc nhà thờ họ.
            Theo sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là một ngày lễ Phật. Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ
            Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam xa dần điển tích nguyên thủy của Trung Hoa mà nhập vào Phật giáo. Dù kinh điển nhà Phật không nói đến ngày rằm Tháng Giêng nhưng trong dân chúng thì đây là dịp lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điềm lành.
            Các chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên các Phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành.
Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng
Giỗ tết cả năm không bằng ngày rằm tháng Giêng

2.  Tết Hàn Thực (mồng 3 tháng 3 Âm lịch.)

Là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. “Hàn Thực” nghĩa là “thức ăn lạnh”.
            Hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôibánh chay, nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên, có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối xuân, chứ ít người biết đến hai chữ “Hàn Thực” gắn với một điển tích ở Trung Quốc, được biết tới nhiều qua tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc.
            Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Côngnước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm).
Việt Nam cũng theo tục ấy và ăn Tết Hàn Thực ngày mồng 3 tháng 3. Tuy nhiên, người ta chỉ làm bánh trôi hay bánh chay để thế cho đồ lạnh, nhưng chỉ cúng gia tiên, và có ít liên hệ đến Giới Tử Thôi và những kiêng kỵ khác

3.  Lễ phật Đản: (15 tháng 4 âm lịch)

Theo truyền thống Phật giáo Đông Á, ngày này chỉ là ngày kỷ niệm ngày sinh của đức Phật Thích Ca; tuy nhiên, theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này làngày Tam hiệp (kỷ niệm Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn).
Phật Đản là ngày nghỉ lễ quốc gia tại nhiều quốc gia Châu Á như Thái LanSri LankaMalaysiaSingaporeIndonesiaHồng KôngMiến ĐiệnĐài LoanCampuchia,… Tại Việt Nam, ngày này không phải ngày nghỉ lễ được công nhận chính thức.

4. Tiết Thanh minh (Từ mồng 5 Đến Mồng 10 Tháng Ba).

            Ông bà ta xưa chọn Tiết Thanh Minh là ngày cắt cỏ trên mộ và đắp đất lên mộ (tảo mộ). Vì ngày này thời tiết chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt hơn trùm lên mộ, có thể làm mộ sụt lở nên cần phải cắt cỏ, đắp thêm đất lên mộ.

5.Tết Đoan ngọ (Ngày 5 tháng 5)

Hay Tết Đoan dương ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, là một ngày Tết truyền thống tại Trung Quốc cũng như một số nước Đông Á như Triều TiênViệt Nam. Tết Đoan ngọ tồn tại từ lâu trong văn hoá dân gian Phương Đông và có ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hoá. Đoan nghĩa là mở đầu, Ngọ là khoảng thời gian từ 11 giờ sáng tới 1 giờ trưa, ăn tết Đoan Ngọ là ăn vào buổi trưa. Đoan Ngọ lúc mặt trời bắt đầu ngắn nhất, ở gần trời đất nhất trùng với ngày hạ chí. Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương. Thời gian này cũng là khi khí dương đang thịnh nhất trong năm, dân gian còn gọi là Tết giết sâu bọ.
Tết Đoan ngọ ở Việt Nam cũng còn gọi là “ngày giết sâu bọ” là ngày phát động bắt sâu bọ, tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng, trong đó nhiều loài sâu có thể ăn được và chúng được coi như là chất bổ dưỡng. người ta tin rằng khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này thì sâu bọ; giun sán trong người sẽ bị chết hết. Truyền thuyết về lịch sử ngày mùng 5 tháng năm được lưu truyền khác nhau ở Việt Nam, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Vào một ngày sau vụ mùa nông dân chúng đang ăn mừng vì trúng mùa, nhưng sâu bọ năm ấy kéo dày ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch. Nhân dân đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này, bỗng nhiên có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân. Ông chỉ dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm đơn giản gồm có bánh gio, trái cây sau đó ra trước nhà mình mà vận động thể dục. Nhân dân làm theo chỉ một lúc sau đó sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượt. Lão ông còn bảo thêm: Sâu bọ hằng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ta đã dặn thì sẽ trị được chúng. Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã đi đâu mất. Để tưởng nhớ việc này, dân chúng đặt cho ngày này là ngày “Tết diệt sâu bọ”, có người gọi nó là “Tết Đoan ngọ” vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ.
Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông là vị trung thần nước Sở và còn là nhà văn hoá nổi tiếng. Tương truyền ông là tác giả bài thơ Ly tao(thuộc thể loại Sở từ) nổi tiếng trong văn hóa cổ Trung Hoa, thể hiện tâm trạng buồn vì đất nước suy vong với hoạ mất nước. Do can ngăn vua Hoài Vương không được,lại bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh,lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông cúng Khuất Nguyên. Ngoài ra, có truyền thuyết khác về sự bắt nguồn của ngày tết Đoan Ngọ, nhiều nguồn tin cho rằng tập tục tết Đoan Ngọ là bắt nguồn từ Hạ Trí trong thời cổ, có người thì cho rằng, đây là sự tôn sùng vật tổ của người dân vùng sông Trường Giang.
Như vậy, theo hai truyền thuyết trên thì mùng 5 tháng 5 có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa. Tuy nhiên, Việt nam đã có biến thể riêng của mình thành ngày “Tết giết sâu bọ”, là một bằng chứng của hiện tượng “dân gian hóa” ảnh hưởng văn hóa từ Trung Quốc
            Các hoạt động chính vào Tết Đoan Ngọ:
Tết Đoan Ngọ là dịp người ta thường ăn tết ở nhà với gia đình. Buổi sáng sớm ngày Tết Đoan Ngọ người ta ăn bánh tro, trái cây, và rượu nếp để giết sâu bọ, bệnh tật trong người. Thường lệ người ta ăn rượu nếp tức thì sâu khi họ ngủ dậy.
Người ta cúng lễ cho một tiết mới, mừng sự trong sáng và quang đãng.
Nhiều người tắm nước lá mùi để phòng bệnh và tẩy trừ “sâu bọ”. Nhiều địa phương ở ven biển đúng giờ ngọ họ đi tắm biển. Tại vì ngày này, theo quan niệm dân gian khí dương mạnh nhất trong năm, người ta cúng lễ để cầu an. Cũng theo quan niệm đó, các lọai cây lá hái trong thời gian này có tác dụng chữa bệnh tốt nhất nên các thày thuốc thường lên núi hái thuốc.
Vào dịp Tết Đoan Ngọ, ai bị cảm cúm nên dùng 5 loại lá: bạch đàn, xương rồng, ngũ trảo, dâu tằm ăn, và sả nấu nước xông để bớt bệnh. Người ta cũng tìm mua cành xương rồng bỏ trong nhà để đuổi tà ma.
            Nét ẩm thực đặc biệt
Bánh tro đã trở thành món ăn truyền thống trong dịp Tết Đoan Ngọ ở Nam Trung Bộ và Miền Nam Việt Nam. Bánh tro có nhiều tên khác nhau như banh ú, bánh gio và bánh âm và có vài biến thể khác nhau theo điệu phương. Người ta làm bánh bằng gạo đã ngâm từ nước tro được đốt bằng củi các loại cây khô hay rơm, gói trong lá chuối. Bánh tro dễ ăn, dễ tiêu làm mát ruột, thường ăn với đường hoặc mật.
Ở miền Bắc, ngày này các gia đình thường làm các món từ vịt, đặc biệt là tiết canh vịt (nhưng những năm gần đây, sau khi có dịch cúm gia cầm thì người ta hạn chế ăn.) Nhưng dường như các chợ ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ những ngày trước và trong Tết Đoan Ngọ thường rất rộn rã việc mua bán vịt sống.
Rượu nếp hay cái rượu cũng là món ăn được nhiều người ưa thích trong tết Đoan Ngọ. Uống rượu hoặc ăn rượu nếp giết sâu bọ.

6.   Lễ Vulan (Ngày 15 tháng 7)

(Chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana), còn được hiểu là lễ báo hiếu, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo. Lễ này trùng với Tết Trung nguyên của người Hán, và cũng trùng hợp với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. Vào ngày này, mọi tù nhân ở Địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sanh về cảnh giới an lành. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa không nơi nương tựa, không có thân nhân trên Dương thế thờ cúng.
Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tátMục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.
Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ.
Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”.
Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu-Lan-Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu-lan ra đời
Truyền thống lễ nghi: Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 (Âm lịch), để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát. Ở Nhật Bản ngày lễ này được tổ chức vào ngày 15 tháng 7, hay là ngày 15 tháng 8 (tính theo Âm lịch) để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực.
Tại Việt Nam, việc cúng Rằm tháng Bảy bao giờ cũng phải cúng ở chùa (thờ Phật) trước, rồi mới đến cúng tại gia. Lễ này thường được làm vào ban ngày, tránh làm vào ban đêm, khi Mặt Trời đã lặn.
Vào ngày này, mọi gia đình đều cúng hai mâm: cúng tổ tiên tại bàn thờ tổ tiên và cúng chúng sinh (cúng thí thực hay cúng cô hồn) ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè (nếu đường rộng), thời gian cúng có thể là vào buổi sáng, trưa hoặc chiều.
Trên mâm cúng tổ tiên, gia đình bày đặt một mâm cỗ mặn, tiền vàng và cả những vật dụng dành cho người cõi Âm làm bằng giấy tượng trưng từ những vật truyền thống (giống như đồ thật) như quần áo, giày dép, áo bào, cung điện, ngựa, các vật dụng trang sức…, mũ kepi, người giúp việc … đến những vật hiện đại: nhà cao tầng, xe ô tô, xe máy, điện thoại… để cho người cõi Âm có được một cuộc sống tiện nghi giống như người Dương trần. Những đồ lễ đó thường được làm tại các cơ sở sản xuất (nổi tiếng là khu phố vàng mã ở chợ lớn TP.HCM” được vận chuyển đi khắp các tỉnh thành.
Trên mâm cúng chúng sinh thì lễ vật gồm có: quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc (xanh lam, xanh lá mạ, vàng, hồng…), các loại bỏng ngô, chè lam, kẹo vừng, kẹo dồi, bánh quế, cháo, tiền vàng, cốc nước lã hoặc rượu (có thể thêm nước ngọt, bia nếu có điều kiện), cốc gạo trộn lẫn với muối (cốc này sẽ được rắc ra vỉa hè hoặc sân nhà về bốn phương tám hướng sau khi cúng xong), ngô, khoai lang luộc, cháo hoa… và những lễ vật khác dành cho những cô hồn, ma đói không nơi nương tựa. ở chùa khi cúng chúng sinh xong người ta thường gọi những đứa trẻ xung quanh đến rồi cho chúng cùng nhảy vào tranh cướp những vật cúng: như bỏng, oản…Tượng trưng cho những cô hồn.

7.  Tết Trung Thu (Rằm tháng 8)

(Chữ Nôm: 節中秋. Trung: 中秋节 Zhōngqiū jié) theo Âm lịch là ngày Rằmtháng 8 hàng năm. Tại Việt Nam, đây đã trở thành ngày tết của trẻ em, còn được gọi là Tết trông Trăng hay Tết Đoàn Viên. Trẻ em Việt Nam rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước… rồi bánh nướngbánh dẻo. Vào ngày tết này, người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Ở một số nơi người ta còn tổ chức múa lânmúa sư tử,múa rồng để các em vui chơi thoả thích.
            Nguồn gốc: Cho đến bây giờ, vẫn chưa xác minh rõ ràng được Tết Trung thu bắt nguồn từ văn minh lúa nước của Việt Nam hay tiếp nhận từ văn hóa Trung Hoa. Có ba truyền thuyết chính được người ta biết đến nhiều nhất để nói về Trung thu đó là Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng và Sự tích về chú Cuội của Việt Nam.
Theo các nhà khảo cổ thì hình ảnh về Trung thu đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng Nam Trung Hoa và đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam.
Theo phong tục người Việt, vào dịp Tết Trung Thu, những người lớn bày cỗ cho trẻ em để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh Trung Thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác nữa.
            Hoạt động chính: Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên vào buổi tối khi Trăng Rằm vừa mới lên cao. Đồng thời trong ngày này, mọi người thường biếu cho ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác Bánh Trung Thu, hoa quả, trà và rượu. Người Trung Hoa thường tổ chức múa rồng vào dịp Trung Thu, còn người Việt múa sư tử hay múa lân. Con Lân tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng và là điềm lành cho mọi nhà… Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát Trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình”.
Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.
Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám.
Tỏ trăng Mười Bốn được tằm, đục trăng hôm Rằm thì được lúa chiêm.

8.   Tết Song thập (mồng10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10Âm lịch)

Còn gọi là tết của các thầy thuốc, hay Tết Cơm mới tháng mười.
Theo sách Dược lễ thì ngày 10 tháng 10 Âm lịch, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (XuânHạThuĐông) trở nên tốt nhất. Ở nông thôn Việt Nam, ngày này người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc. Có nơi tổ chức Tết Cơm mới tháng mười (còn gọi là Tết Hạ nguyên) vào ngày rằm Tháng Mười hay ngày 31 tháng 10 để nhớ đến công của Tiên Nông (tiên của ruộng đồng) và để ăn mừng việc gặt hái của vụ mùa đã xong.
Tục sêu tết vào dịp Tết Cơm Mới thì thường biếu nhau gạo đầu mùa, chim ngói, và hồng chín

9.   Lễ 23 tháng Chạp (Táo Quân)

(Trung: 灶君 <灶君> (Táo quân)/ Zào jūn); Táo Vương (灶王) hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung Hoa được xem là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà; Táo (灶) có nghĩa là bếp. Việt Nam và Trung Hoa có những truyền thuyết về Táo Quân khác nhau.
            Thờ cúng: Người Trung Quốc cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình nhưng sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp. Vào ngày đó, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo. Ngoài ra còn có nước và cỏ khô cho ngựa của vua bếp “ăn” để bay và chở vua lên trời[
Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ CôngThổ ĐịaThổ Kỳ của Lão giáoTrung Quốcnhưng được Việt hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà” – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị nhất thể (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất.
Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:
Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.
Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.
Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.
Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân (定福灶君), nhưng mỗi người giữ một việc:
Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần
Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần[
            Thờ cúng: Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, trên có bài vị thờ viết bằng chữ Hán. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Công lên chầu trời nên có nơi gọi ngày này là “Tết ông Công”, lễ cúng có cá chépvì người Việt cho rằng, ông Táo cưỡi cá chép lên trời
Ngoài ra người Việt Nam còn quan niệm Táo Quân sẽ lên trời và thưa với Ngọc Hoàng Thượng Đế những sự kiện xảy ra trong năm vừa qua ở dưới trần gian. Vì thế người Việt Nam làm lễ tiễn ông Công ông Táo rất thịnh soạn với mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ được thưa với Ngọc Hoàng, và những điều không may mắn hoặc không tốt sẽ được báo cáo nhẹ đi, việc làm này có thể là do Văn hóa và thói quen từ xa xưa truyền lại.

10. Tết nguyên Đán

Nguồn gốc ra đời:Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thừa”) trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau. Đời Đông ChuKhổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà HánHán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Trước năm 1967, Việt Nam lấy múi giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờGMT+7 làm chuẩn ở miền Bắc. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền nam thì ngày 30 tháng 1).Từ năm 1976, cả 2 miền nam bắc mới dùng chung múi giờ GMT+7.
Ngày nay, người Việt Nam ta quan niệm rằng trong ngày Tết thì tất cả mọi thứ đều phải thật sớm và mới. Do đó trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, các gia đình đã sắm sửa cho ngày Tết. Họ thường quét dọn, trang trí nhà cửa, mua hoa, sắm thức ăn… thật chu đáo cho ngày Tết. Ngoài ra, tất cả những vật dụng không cần thiết hoặc bị cho là đem lại điềm gở cũng bị vứt bỏ
Công việc sửa soạn cho ngày Tết của người Việt thường bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo quân). Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu của gia chủ. Ông Táo được cúng vào trưa hoặc chiều ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Lễ cúng gồm có hương, nến, hoa quả, vàng mã và hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà kèm theo ba con cá chép (cá chép thật hoặc cá chép làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ). Theo sự tích ông Táo, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng. Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu, trong khi ở thành phố, phong tục này đã bị lãng quên. Theo phong tục, cây nêu được dựng lên để chống lại quỷ dữ và những điềm gở. Cây nêu thường được treo hoặc trang trí thêm những thứ được coi là để dọa ma quỷ như: tỏi, xương rồng, hình nộm và lá dứa. Trước ngày Tết, người Việt cũng chuẩn bị bánh chưng, bánh giầy và các món ăn thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên.
            Tất niên:Ngày Tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giênggiờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, nó được gọi làGiao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thường làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang không nơi nương tựa.
Sắp dọn bàn thờ Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, Mặt Trăng và hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng. Phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Có nhà cũng cắm “cành vàng lá ngọc” (một thứ hàng mã) với sự cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc và buôn bán lãi gấp nhiều lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khủy và vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen hai cái đĩa giữa đèn và hương để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó). Trước bát hương để một bát nước trong để coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.
            Giao thừa:  Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Dịp này, người ta thường bắn pháo hoa ở những địa điểm rộng rãi, thoáng mát.
            Cúng Giao thừa là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến.
            Cúng Giao thừa ngoài trời: Theo tục lệ cổ truyền thì Giao thừa được tổ chức nhằm đón các Thiên binh (chữ Hán: 天 兵, tức 12 vị Hành khiển). Lúc đó họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận bên trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính mỗi nhà. Hết một năm, vị Hành khiển (行遣) cũ đã cai quản Hạ giới trong năm cũ sẽ bàn giao công việc cho vị Hành khiển mới đi xuống sẽ cai quản Hạ giới trong năm mới. Mỗi năm có một vị, sau 12 năm thì các vị Hành khiển sẽ luân phiên trở lại. Mười hai vị Hành khiển và Phán quan (判官) gồm:
–         Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn Hành Binh chi Thần, Lý Tào Phán quan.
–         Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam thập lục phương Hành Binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan.
–         Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển, Mộc Tinh chi Thần, Tiêu Tào Phán quan.
–         Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển, Thạch Tinh chi Thần, Liêu Tào Phán quan.
–         Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển, Hỏa Tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan.
–         Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan.
–         Năm Ngọ: Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan.
–         Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển, Ngũ Đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan.
–         Năm Thân:Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan.
–         Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan.
–         Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển, Thiên Bá chi Thần, Thành Tào Phán quan.
–         Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển, Ngũ Ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan.
Mâm lễ được sắp bày với lòng thành kính tiễn đưa người Nhà Trời đã cai quản mình năm cũ trở lại Thiên đình và đón người mới xuống sẽ làm nhiệm vụ cai quản Hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị chỉ có thể ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Trên chiếc hương án có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm các chiếc thủ lợn hoặc con bánh chưngmứtkẹotrầucauhoaquảrượu hoặc nước và vàng mã.
Lễ trừ tịch còn là lễ để “khu trừ ma quỷ”, do đó có từ “trừ tịch”. Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.
            Cúng Giao thừa trong nhà: Cúng Giao thừa trong nhà là lễ cúng tổ tiên vào chính thời khắc giao thừa vừa tới nhằm để cầu xin Tổ tiên phù hộ độ trì cho gia đình gặp những điều tốt lành trong năm mới sắp đến. Mâm lễ bao gồm các món ăn mặn ngày Tết được chế biến tinh khiết với phong cách trang nghiêm.
Cỗ mặn gồm có bánh chưnggiòchảxôi gấcthịt gàxôi các loại, rượubia và các loại thức uống khác. Các món ăn mặn khác tùy theo nhu cầu của gia đình. Cỗ ngọt và chay bao gồm Hươnghoa, đèn nến, bánhkẹomứt tết.
Khi cúng Giao thừa trong nhà, các thành viên trong gia đình thường đứng trang nghiêm trước bàn thờ (không cần tất cả, chỉ cần gia chủ và vài ba người nữa) để khấn tổ tiên và xin được các cụ phù hộ độ trì trong nhà mới và cầu an khang thịnh vượng, sức khỏe tốt. Trước khi khấn Tổ tiên để mời tiền nhân về ăn Tết cùng với con cháu hậu thế, các gia chủ thường khấn thần Thổ Công để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết. Ông là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái).
            Ba ngày Tân niên: “Ngày mồng Một tháng Giêng” là ngày Tân niên đầu tiên và được coi là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi được mời đi xông đất, vào sáng sớm ngày này, người Việt cổ thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình. Đối với những gia đình đã tách khỏi cha mẹ và cha mẹ vẫn còn sống, họ đến chúc tết các ông bố theo tục: Mồng Một Tết cha.
“Ngày mồng Hai tháng Giêng” là ngày có những hoạt động cúng lễ tại gia vào sáng sớm. Sau đó, nguời ta chúc tết các bà mẹ theo tụcMồng Hai Tết mẹ. Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình còn phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai (nhạc gia) để chúc Tết theo tục Đi sêu.
“Ngày mồng Ba tháng Giêng” là ngày sau khi cúng cơm tại gia theo lệ cúng ít nhất đủ ba ngày Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục Mồng Ba Tết thầy. Trong những ngày này người ta thường đi thăm viếng, hỏi thăm nhau những điều đã làm trong năm cũ và những điều sẽ làm trong năm mới.
            Xông đất: Xông đất (hay đạp đất, mở hàng) là tục lệ đã có lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người quan niệm ngày Mồng Một “khai trương” một năm mới. Họ cho rằng vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng có tính vui vẻ, linh hoạt, đạo đức và thành công để nhờ sang thăm. Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết chừng 5 đến 10 phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.
Cách chọn tuổi xông đất: Người xông đất thường phải có Thiên can, Địa chi, Ngũ hành tương sinh với Gia chủ, theo triết học Đông phương thì sẽ giúp tăng tài khí, may mắn cho Gia chủ. Người xông đất nếu hợp với năm nay thì càng tốt. Đã vượng thịnh thì càng giúp Gia chủ thêm vượng thịnh hơn:
            + Chọn tuổi xông nhà, xông đất theo địa chi:
            1- Chủ nhà tuổi Tý: Chọn người tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), Tuổi Sửu (Nhị hợp).
            2- Chủ nhà tuổi Sửu: Chọn tuổi Tỵ, Dậu, Tý.
            3- Chủ nhà tuổi Dần: Chọn tuổi Ngọ, Tuất, Hợi.
            4 – Chủ nhà tuổi Mão: Chọn tuổi Mùi, Hợi, Tuất.
            5 – Chủ nhà tuổi Thìn: Chọn tuổi Tý, Thân, Dậu.
            6- Chủ nhà tuổi Tỵ: Chọn tuổi Sửu, Dậu, Thân.
            7- Chủ nhà tuổi Ngọ: Chọn tuổi Dần, Tuất, Mùi.
            8- Chủ nhà tuổi Mùi: Chọn tuổi Mẹo, Hợi, Ngọ.
            9- Chủ nhà tuổi Thân: Chọn tuổi Tý, Thìn, Tỵ.
            10- Chủ nhà tuổi Dậu: Chọn tuổi Sửu, Tỵ, Thìn.
            11- Chủ nhà tuổi Tuất: Chọn tuổi Dần, Ngọ, Mẹo.
            12- Chủ nhà tuổi Hợi:  Chọn tuổi Mẹo, Mùi, Dần.
            + Chọn tuổi xông đất, xông nhà theo Thiên Can:
            1. Người Tuổi Giáp hợp với Kỷ mà kỵ với Canh.
            2. Tuổi Ất hợp với Canh mà kỵ với Tân.
            3. Tuổi Bính hợp với Tân mà kỵ với Nhâm.
            4. Tuổi Đinh hợp với Nhâm mà kỵ với Quý.
            5. Tuổi Mậu hợp với Quý mà kỵ với Giáp.
            6. Tuổi Kỷ hợp với Giáp mà kỵ với Ất.
            7. Tuổi Canh hợp với Ất mà kỵ với Bính.
            8. Tuổi Tân hợp với Bính mà kỵ với Đinh.
            9. Tuổi Nhâm hợp với Đinh mà kỵ với Mậu.
            10. Tuổi Quý hợp với Mậu mà kỵ với Kỷ.
            Ghi chú: Nếu chọn được Thiên Can hợp và Tuổi hợp lại càng thêm tốt. Nếu chọn Thiên Can hợp, nhưng lưu ý Tuổi xung: Tý-Ngọ xung, Mẹo-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung, thì cũng nên tránh).
            + Chọn người xông nhà, xông đất theo mệnh:
1.      Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người mệnh Thổ, Thủy, Kim.
2.      Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người mệnh Thủy, Hỏa, Mộc.
3.      Chủ nhà mệnh Thủy nên chọn người mệnh Kim, Mộc, Thủy.
4.      Chủ nhà mệnh Hỏa nên chọn người mệnh Mộc, Thổ, Hỏa.
5.      Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn người mệnh Hỏa, Kim, Thổ.
            Lưu ý: mệnh hợp nhưng Tuổi xung nên tránh: Tý-Ngọ xung, Mão-Dậu xung, Thìn-Tuất xung, Sửu-Mùi xung, Dần-Thân xung, Tỵ-Hợi xung.
            Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước, người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới. Thời xưa, chỉ có hai cách chọn người tốt vía xông đất ngày đầu năm. Kẻ làm quan, người có học chọn người xông đất có tuổi hợp tuổi với chủ nhà
Xuất hành và hái lộc: Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần… Tại miền Bắc, nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nảy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền Bắcmiền Trung không có tục hái lộc đầu năm nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá xanh biếc suốt cả mùa xuân.
Tuy nhiên việc hái lộc ngày nay đã có những quan niệm trái chiều so với trước đó là: – Việc hái lộc không nên vì có thể có những cành lộc có “Vong” (linh hồn) bám theo. Khi chúng ta hái lộc về vô tình sẽ mang “Vong” về theo, nếu “Vong” tốt thì không sao nhưng nếu “Vong” xấu thì có thể làm cho nhà cửa chúng ta không may mắn… Đây là vấn đề mang tinh Tâm linh, tuy nhiên nó cũng có cái lý của nó. Tiếp theo việc hái lộc đôi khi làm ảnh hưởng đến cây xanh cảnh quan môi trường vì tâm lý mọi người đều muốn đem thật nhiều lộc về nhà cầu may, do vậy đã không ít trường hợp làm hỏng hết cây cối gây ảnh hưởng đến môi trường…
            Chúc Tết: Sáng mồng Một Tết còn gọi là ngày Chính đán, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổi, bởi vậy ngày mồng Một Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên (ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là tăng thêm một tuổi)
            Tục thăm viếng: Thăm viếng họ hàng là để gắn kết tình cảm gia đình họ hàng. Lời chúc tết thường là sức khỏe, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công… Những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau tai qua nạn khỏi hay của đi thay người nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.
Đến thăm những người hàng xóm của mình và những gia đình sống gần với gia đình mình, chúc họ những câu tốt lành đầu năm mới. Những chuyến thăm hỏi này giúp gắn kết mọi người với nhau, xóa hết những khúc mắc của năm cũ, vui vẻ đón chào năm mới.
Đến thăm những người bạn bè, đồng nghiệp và những người thân thiết với mình để chúc họ những câu tốt lành, giúp tình cảm bạn bè gần gũi hơn.
            Mừng tuổi: Lì xì (压 岁钱, phát âm: ya sui qian): người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay “hồng bao”, gọi là “lì xì” với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc thì trong “hồng bao” có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu. Tại vì ma sẽ sợ giấy màu đỏ
            Theo truyền thuyết: Ngày xưa có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa khiến trẻ con giật mình khóc thét lên. Hôm sau đứa trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái. Có một cặp vợ chồng nọ mới sinh được một mụn con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện định làm hại đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy.
Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là “Tiền mở hàng”. Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền chẵn), ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều
            Hóa vàng: Ngày mồng 4 tháng Giêng theo lịch cổ là ngày con nước. Trong ngày này, người Việt làm lễ cúng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu và đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm tiền vốn đầu năm, đặng phù hộ độ trì cho con cháu hậu thế làm ăn phát đạt. Tại nhiều vùng ở Đồng bằng Bắc Bộ, người Việt có tục hát chèo đò đưa tổ tiên trở lại thế giới bên kia.
Tục hóa vàng ngày mồng 4 hoặc mồng 5, không ít gia đình vẫn theo truyền thống cũ: làm cơm, đốt vàng mã gửi người thân khuất bóng và những lời cầu nguyện một năm mới nhiều may mắn. Vào ngày mồng 4 và mồng 5 tháng Giêng, người ta kiêng xuất hành vì đây là ngày không tốt.
Lễ Khai hạ:Ngày mồng 7 tháng Giêng (cũng có thể là mồng 6 tháng Giêng) là ngày cuối cùng của chuỗi lễ hội Tết. Trong ngày này, người Việt làm lễ hạ Cây nêu, gọi là lễ Khai hạ, kết thúc dịp Tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn bình thường từ ngày mồng 8 hoặc mồng 9 tháng Giêng.
            Mâm ngũ quả: là một mâm trái cây có chừng năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng. Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.
            Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuốibưởiđàohồngquýt hay là chuối, ớt, bưởi, quất. Có thể thay thế bằng camlê-ki-matáo,mãng cầu. Nói chung, người miền Bắc không có phong tục khắt khe về mâm ngũ quả và hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày được, miễn là nhiều màu sắc.
Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừađu đủmãng cầu Xiêmxoàisung, với ngụ ý cầu sung vừa đủ xài.  Người miền Nam thường kiêng kỵ chưng trái có tên mang ý nghĩa xấu (kể cả khi đọc trại) như chuối – chúi nhủi, cam – cam chịu, lê – lê lết, sầu riêng, bom (táo), lựu – lựu đạn… và không chọn trái có vị đắng, cay
Câu đối Tết: Nhiều người ta xin, mua câu đối hay hoặc một vài chữ Nho mang ý nghĩa cầu an, cầu tài lộc cho năm mới.
Mâm ngũ quả và bàn thờ gia tiên: Được bày biện cầu kỳ đầy đủ vật lễ. Người nội trợ có ý thức mua đủ 5 loại quả và trình bày sao cho đẹp mắt và có ý thể hiện vẻ sung túc của gia đình.
Xông nhà: Người ta nhờ người hợp tuổi, hợp mệnh đến xông nhà, cầu mong sang năm lấy được vía tốt của người xông nhà..
Chọn hướng xuất hành: Sau giao thừa, có người xuất hành đi du xuân luôn. Họ chọn một hướng tương hợp tương sinh với mình với con giáp của năm để xuất hành cầu tài đón lộc.
Lễ chùa: Có người cả năm không đi lễ, nhưng đến Tết nhất thiết phải qua chùa thắp nén hương, dâng tiền giọt dầu hoặc tiền công đức cho chùa. Vào ngày đầu năm, tại chốn linh thiêng, người ta tin rằng điều cầu khấn của mình có nhiều khả năng thành hiện thực.[48]
Mua muối: Đầu năm mọi nhà đều mua muối để cầu may mắn đến. Vẫn có câu là Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.
Khai ấn và Khai bút: Đầu Xuân, nhằm vào ngày tốt, giờ tốt, người có chức tước khai ấn (đóng con dấu lần đầu tiên trong năm); học trò, sĩ phukhai bút (viết bài hoặc một đoạn văn, một câu thơ… đầu tiên trong năm); nhà nông khai canh, (cày ruộng, làm đất, trồng, cấy lần đầu tiên trong năm); người buôn bán thì “khai thương”, (mở hàng lần đầu tiên trong năm)… Sau ngày mùng Một, dù có mải vui cũng chọn ngày để khai nghề,làm lấy ngày. Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì Giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người ta thuờng chợ Tết cùng với du xuân (đi chơi Tết).
Đi lễ chùa và xin xăm: (Còn gọi là xin thẻ): Không ai biết chắc chắn phong tục này có từ bao giờ và tại sao nhưng trong những ngày đầu năm âm lịch thì rất nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin xăm nhất là vào buổi sáng mồng một, phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc. Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm. Ở miễn Bắc có tục “bốc quẻ thẻ” giống như tục “xin xăm” ở phía Nam. Người xin thẻ dâng một lễ mọn rồi chọn lấy một quẻ thẻ bằng tre viết chữ Hán. Trên quẻ thẻ thường ghi một câu văn ngắn gọn rút từ điển tích Trung Hoa cổ. Căn cứ câu văn ấy, người xin thẻ có thể luận ra “tiền định” cuộc đời mình trong năm đó. Nếu không thông thạo Hán Văn, có thể thuê thầy đồ luận giải giúp. Ngày nay, người ta thường bỏ thẻ tre và thay vào đó bằng những tờ bướm in chữ quốc ngữ với lời giải được soạn sẵn
            Sinh hoạt ngày tết – Áo quần mới: Ngày xưa, trước Tết một thời gian ngắn, các bà các mẹ trong nhà phải thức khuya quay tơ, dệt vải, may áo quần mới cho cả nhà. Công việc này thường kết thúc vào ngày cuối năm. Đến sáng mùng Một Tết, cả nhà dậy sớm, thay quần áo mới để làm lễ gia tiên. Người ta cho rằng cần phải rũ bỏ những cái cũ, cái không may mắn đi theo quần áo cũ và đón một năm mới với nhiều hi vọng và niềm vui mới từ bộ quần áo mới đó.
Dọn dẹp nhà cửa trước Tết: Do tục kiêng cữ quét nhà trong ngày Tết. Theo quan niệm dân gian, việc quét nhà trong ngày Tết sẽ quét đi theo cả lộc xuân (xác pháo đốt trong đêm giao thừa), người quét nhà sẽ bị “rông” cả năm; (rông: được hiểu như sự xui xẻo).
Trả nợ cũ: Đối với nhiều người Việt, dịp tất niên là dịp trả nợ cũ, xóa bỏ xích mích của năm cũ, để hướng tới năm mới vui vẻ hòa thuận hơn.
Treo quốc kỳ: Những năm sau ngày thống nhất đất nước, tại Việt Nam, ngày tết cũng như các ngày lễ trong năm, chính phủ đều khuyến khích treo quốc kỳ. Các công sở, công ty, trường học, nơi sinh hoạt công cộng thường treo quốc kỳ kèm bích chương “Chúc mừng năm mới” và các loại cờ ngũ sắc.
Trò chơi dân gian: bịt mắt bắt dêmúa võhát bộihát cải lươnghát chèođánh đu, thi leo cột mỡ, đập niêu, chọi gà; bài chòi; chơi tổ tôm điếm; chơi cờ nguời và nhiều trò dân gian cổ truyền khác.
Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúccờ gánhcờ nhảychắntổ tôm… ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ (hạ nêu) thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm…hoặc đốt các bộ bài trong lễ hóa vàng.
Cúng đưa và Hạ nêu: Trong những ngày Tết, người Việt quan niệm rằng có sự hiện diện của Ông Bà tổ tiên nên bàn thờ luôn được thắp hương và cúng cơm mỗi ngày. Thường thì chiều mồng Bốn hay mồng Năm cúng tiễn đưa Ông Bà, chiều mồng Bảy cúng hạ nêu.
Đốt pháo: thường hay có trong dịp cúng tất niên hay thời khắc giao thừa ngày Tết cổ truyền. Từ năm 1994, nhà nước Việt Nam đã cấm đốt pháo, buôn bán và nhập khẩu pháo bằng Chỉ thị số 406/CT-TTg ngày 8 tháng 8  vì tính chất nguy hiểm dễ gây sát thương của nó. Thay vào đó, chính quyền tổ chức các đêm bắn pháo hoa cho người dân thưởng thức.
            Kiêng kỵ:Theo quan niệm trong ngày đầu năm (Nguyên Đán) mà có nhiều điều tốt đẹp thì cả năm đó chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đẹp đến cho mọi người, do đó, người Việt có một số kiêng kỵ như sau:
            Kỵ mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày vui của toàn dân tộc, ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc. Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh. Trường hợp gia đình có người chết vào ngày 30 tháng chạp mà gia đình có thể định liệu được thì nên chôn cất cho kịp trong ngày đó, đa số các gia đình kiêng để sang ngày mùng Một đầu năm. Trường hợp chết đúng ngày mùng Một Tết thì chưa phát tang vội nhưng phải chuẩn bị mọi thứ để sáng mùng Hai làm lễ phát tang.
Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình, vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn. Cho người khác cái đỏ trong ngày mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều không may như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai bay vạ gió…
Kiêng cho nước đầu năm vì nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc tiền vô như nước, nếu cho nước thì coi như mất lộc.
Trong ngày này, người ta kiêng quét nhà vì theo một điển tích của Trung Quốc, nếu quét nhà thì năm đó gia cảnh sẽ nghèo túng, khánh kiệt. Khi hốt rác trong nhà đổ đi thì thần Tài sẽ đi mất.
Ngày đầu năm cũng như ngày đầu tháng, người ta rất kiêng kỵ việc vay mượn hay trả nợ, cho vay. Người xưa quan niệm không nên vay tiền hoặc đồ đạc vào những ngày đầu năm mới, điều đó có thể làm chúng ta rơi vào cảnh túng thiếu cả năm, không may mắn.
Trong ăn uống, người ta kiêng ăn thịt chócá mè, thịt vịt… Nếu ăn những thứ này vào dịp đầu năm hay đầu tháng sẽ “xúi quẩy”.
Ngoài ra, người già cũng khuyên con cháu trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.
            Người ta thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.
Kiêng mặc quần áo màu trắng và đen: Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang lễ, chết chóc, vì vậy những ngày đầu năm thì phải mặc trang phục với những màu sắc sặc sỡ và thu hút sự chú ý, tạo nên sự phấn khởi và vui vẻ để đón chào năm mới, như: màu hồng, đỏ, vàng, xanh…
Kiêng nói to, cãi nhau, nói xấu hay mắng người khác.
Kiêng đi chúc Tết vào sáng Mồng Một Tết nếu không được gia chủ mời vì sợ sẽ mang đến điều không tốt đẹp cho chủ nhà trong năm mới. Theo phong tục xông đất, người đầu tiên bước vào nhà ai trong ngày mùng một Tết chính là người quyết định đem lại sự may mắn hoặc xui xẻo cho gia đình ấy trong cả năm.
Ngày mồng 5 tháng giêng Âm lịch là ngày nguyệt kỵ, người Việt thường tin rằng ngày này không thích hợp cho xuất hành.

LỄ TỤC VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI VIỆT

i. Nghi thức và các Lễ trong vòng đời

1. Lễ cúng Mụ

Là phong tục cúng tạ ơn và cầu phúc tới các bà Mụ, những Tiên nương theo quan niệm dân gian tương truyền phụ trách việc sinh nở và nặn ra những đứa trẻ.
Lễ cúng Mụ thịnh hành trong một số dân tộc châu Á trong đó có dân tộc Việt, và thường được tổ chức vào những thời điểm khi đứa trẻ mới sinh được 3 ngày (ngày đầy cữ), 1 tháng (ngày đầy tháng), 100 ngày (ngày đầy tôi) và 1 năm (ngày thôi nôi).
rong sách Bắc bộ lục có nói: Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được ba ngày, hoặc đầy tháng, thì tắm cho con, làm một bữa tiệc gọi là “đoàn du phạn” (nghĩa là bữa cơm tròn trặn trơn tru). Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn viết: Tục nước ta, đẻ con được ba ngày, làm mâm cơm cúng Mụ. Đến hôm đầy tháng, hôm một trăm ngày, hôm đầy tuổi tôi, đều có làm cỗ cúng gia tiên, bầy tiệc ăn mừng. Bà con, người quen thuộc, dùng thơ, câu đối, đồ chơi, đồ quần áo trẻ để mừng nhau. Mà nhất là tiệc một trăm ngày là tiệc đầy tuổi tôi to hơn cả. Học giả Phan Kế Bính còn cho rằng ở thành phố Hà Nội hiện nay thì đẻ con ra đầy cữ, đầy tháng, đầy tuổi tôi, mới làm lễ cúng Mụ..
Theo quan niệm dân gian của cộng đồng người Việt, đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai) và Tiên Mụ mà trực tiếp là 12 bộ Tiên Nương (12 bà Mụ) nặn ra ban cho. Vì vậy, khi đứa trẻ đầy cữ (đứa trẻ chào đời được 3 ngày), đầy tháng (đứa trẻ chào đời được một tháng) hay đầy năm thì bố mẹ, ông bà đứa trẻ phải bày tiệc cúng Mụ để tạ ơn các bà Mụ và cầu xin các Mụ ban cho đứa trẻ mọi điều may mắn tốt lành.
Tục thờ cúng 12 bà Mụ là tín ngưỡng người Việt tiếp thu từ Trung Hoa.
Trong nghi thức cúng Mụ, phần sửa soạn lễ vật hết sức quan trọng đòi hỏi phải được thực hiện cẩn thận và chu đáo. Lễ cúng Mụ của người Việt thường được thực hiện với các phần lễ vật gồm 12 lễ nhỏ (cúng 12 bà Mụ) và 1 lễ lớn (cúng bà Mụ Chúa). Lễ vật thông thường bao gồm:
–         Đồ vàng mã: các đôi hài màu xanh, nén vàng màu xanh, váy áo màu xanh.
Trầu cau: trầu têm cánh phượng, 12 miếng trầu với cau bổ tư và 1 miếng to hơn với cau nguyên quả
–         Đồ chơi trẻ em bằng nhựa hoặc sành sứ: Gồm các bộ đồ chơi giống hệt nhau với bát, đũa, thìa, chén cốc, con giống, xe cộ, nón, mũ v.v.
–         Động vậtcua, con ốctôm để sống hoặc có thể hấp chín. Các động vật này có 12 con kích thước bằng nhau và có 1 con to hơn. Hoặc nếu không có con to hơn thì thay bằng 3 con nhỏ. Các con này để vào bát bày cúng và sau khi cúng xong thì đem thả ra ao, hồ phóng sinh.
–         Phẩm oản: Cũng chia 12 phần đều nhau và một phần lớn hơn (hoặc nhiều hơn).
–         Lễ mặn: bao gồm xôi luộc, cơmcanhmón ănrượu trắng
–         Kẹo bánh: Chia thành 12 phần và một phần to hơn (hoặc nhiều hơn).
–         Hương hoa: hương, lọ hoa nhiều màu, tiền vàng, nước trắng.
Tất cả các lễ vật được bài trí một cách hài hòa, cân đối ở chính giữa phía trên của hương án, trong đó lễ vật dâng các bà mụ chia làm 12 phần nhỏ đều nhau và 1 phần to hơn. Mâm lễ mặn với hương, hoa, nước trắng để trên cùng và mâm tôm, cua, ốc để phía dưới.
Tại một số vùng miền, địa phương khác lễ vật có thể thay đổi và tùy theo lễ cúng đầy tháng hay lễ thôi nôi. Trong ngày đầy tháng, gia chủ có thể chuẩn bị mâm lễ vật cúng kính 12 Mụ bà gồm 12 chén chè, 3 tô chè, 3 đĩa xôi và một mâm cung kính 3 Đức ông gồm con vịt tréo cánh được luộc chín, 3 chén cháo và 1 tô cháo v.v.. Trong khi đó tại lễ thôi nôi, ngoài lễ vật chè, xôi, vịt luộc cúng Mụ bà – Đức ông như trong lễ đầy tháng, còn có lợn quay cúng đất đai điền địa, thổ công, thổ chủ. Mâm bày ngoài sân bên cạnh lợn quay còn có 5 chén cháo, 1 tô cháo, 1 đĩa lòng lợn, rau sống, nhang, đèn, rượu, trà, hoa quả, trên lưng lợn quay gắn một con dao bén. Trong nhà thì bày 3 mâm cúng với lễ vật là những thức ăn chín phù hợp với tập quán từng địa phương. Kế bên bày 12 chén chè, xôi; con vịt luộc chín với 3 chén cháo và 1 tộ cháo cúng 12 Mụ bà và 3 Đức ông.
Cúng lễ:  Sau khi bày lễ xong, bố hoặc mẹ cháu bé sẽ thắp 3 nén hương, rồi bế cháu bé ra trước án và khấn theo bài khấn cúng Mụ. Bài khấn cúng Mụ, tùy địa phương, câu chữ có thể có dị bản, nhưng thường bắt đầu bằng việc kính cẩn xưng danh các bà Mụ, thần phật; ngày tháng cúng; tên 2 vợ chồng và tên đứa con là trung tâm của lễ cúng, nơi ở của gia đình; lý do cúng; bày tỏ lòng biết ơn công lao của các bà Mụ và cuối cùng là lời cầu mong các bà độ trì phù hộ.
Khi đã khấn xong, vái 3 vái và sau tuần hương thì lễ tạ. Các lễ vật vàng mã sẽ được đem hóa, đồ ăn thì người nhà thụ lộc; động vật sống thì phóng sinh; và đồ chơi thì giữ lại cho em bé và phân phát cho trẻ em hàng xóm, họ hàng lấy khước.

2. Nghi Lễ cưới hỏi ngày nay

1/Chạm ngõ hay (dạm ngõ): Ngày xưa đó là lần đầu tiên đại diện nhà trai đến nhà gái, sau khi đã chọn được dâu đúng với “tiêu chuẩn”. Lần “đặt vấn đề” này hoàn toàn có tính “đánh tiếng”, “làm quen”. Nếu sau lần giạm ngõ này không có vấn đề gì thì lễ ǎn hỏi chính thức được tiến hành. Điều đáng chú ý là trong lần chạm mặt này, cô dâu, chú rể tương lai sẽ được thấy mặt nhau, vì thế còn được gọi là lễ xem mặt.
            Đây là một lễ nhằm chính thức hóa quan hệ hôn nhân của hai gia đình. Theo số liệu xã hội học, tần suất thực hiện lễ chạm ngõ ở xã hội ta hiện nay đang có xu hướng tăng. Như thế, đây là nhu cầu xã hội chứ không phải hành vi hướng cổ có tính chất chơi trội của một nhóm xã hội nào.
Lễ chạm ngõ ngày nay cũng không theo lối xưa, chỉ là buổi gặp gỡ giữa hai gia đình. Nhà trai xin đến nhà gái đặt vấn đề chính thức cho đôi nam nữ được tự do đi lại, tiếp tục quá trình tìm hiểu nhau một cách kỹ càng hơn, trước khi đi đến quyết định hôn nhân. Buổi lễ này, không cần vai trò hẹn trước của người mối (kể cả những trường hợp yêu nhau nhờ mai mối), không cần lễ vật rườm rà.
Về bản chất, lễ này chỉ là một ứng xử văn hóa, thông qua đó hai gia đình biết cụ thể về nhau hơn (về gia cảnh, gia phong), từ đó dẫn tới quyết định tiếp tục hay không quan hệ hôn nhân của hai gia đình. Lễ vật của lễ chạm ngõ theo truyền thống rất đơn giản và có thể chỉ có trầu cau, chè thuốc.
Xét về mặt chức năng: nếu bỏ qua lễ này mà đi thẳng vào lễ ăn hỏi thì mọi việc sẽ bị cảm thấy đường đột, ngang tắt, không có khởi đầu. Vì thế, tuy không phải là một lễ trọng nhưng lại là một lễ không thể thiếu trong tiến trình hôn lễ. Hơn nữa, lễ này không tốn kém (lễ vật có thể chỉ có trầu cau) mà lại biểu thị được bản sắc văn hóa dân tộc (văn hoá trầu cau) thì việc bỏ qua lễ này là điều không hợp lý.
Đối với lễ này, thường người Việt Nam vẫn tiến hành theo khuôn mẫu cổ truyền:
Thành phần tham gia:
Nhà trai: Bố, mẹ, chú rể, người mối (nếu có).
Nhà gái: Cả gia đình nhà gái.
Lễ vật của nhà trai: Trầu cau và chè
Nhưng số lượng phải tính chẵn. (Ví dụ: 2 gói chè, hai chục cau).
Đón tiếp ở nhà gái: Dọn dẹp nhà cửa sạch, đẹp. Ăn mặc trang trọng. Khi đoàn khách nhà trai đến, đón chào niềm nở. Tiếp khách bằng trà (nếu có trà thơm là tốt nhất). Khi nhà gái đồng ý nhận lễ vật, mang đặt lên bàn thờ thì cuộc lễ coi như kết thúc. Sau đó hai bên có thể ngồi lại nói chuyện đôi chút.
2/ Ǎn hỏi: Hay còn gọi là lễ vấn danh, theo tục xưa là hỏi tên tuổi cô gái, nhưng ngày nay cha mẹ đôi bên đã biết biết rõ rồi. Cô gái nhà nào đã nhận lễ vấn danh coi như đã có nơi, có chốn. Sau ngày lễ ăn hỏi, phải có báo hỉ, chia trầu. Nhà gái trích trong lễ vật nhà trai đưa đến một lá trầu, một quả cau, một gói trà nhỏ, một cái bánh cốm, hoặc vài hạt mứt. Tất cả gói thành hộp hay phong bao giấy hồng, mang đến cho các gia đình họ hàng, bạn hữu của nhà gái. Nhà trai cũng báo hỉ, nhưng không phải có lễ vật này mà chỉ cần thiếp báo hỉ. Cũng trong lễ ăn hỏi, hai họ định luôn ngày cưới.
            Có thể nói rằng, lễ ăn hỏi là sự thông báo chính thức về sự hứa giá thú của hai gia đình, hai họ. Nó đánh dấu một chuyển đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: Cô gái được hỏi đã chính thức trở thành vợ chưa cưới của chàng trai đi hỏi.
Ngày nay, về hình thức lễ này vẫn giữ tên là lễ ăn hỏi, nhưng trên thực tế, thì lễ này bao hàm cả lễ dẫn cưới. (Sự quy giản này phần nào cho chúng ta thấy tính thích nghi của văn hóa cổ truyền trong xã hội đương đại). Chính vì thế, mô hình lễ ăn hỏi ngày nay phải phản ánh được sự thay đổi ấy, nói cách khác, trong các nghi thức ở lễ ăn hỏi ngày nay phải có cả những nghi thức của lễ dẫn cưới.
Mô hình lễ ăn hỏi trong xã hội Việt Nam đương đại như sau:
+ Về thành phần tham dự:
Nhà trai: Đại diệnhọ hàng, gia đình, chú rể, ban bè, một số cô gái chưa chồng đội lễ hay còn gọi là bê tráp là nam thanh niên (vì các cô sợ “mất duyên”), số người bê tráp là số lẻ 5 hoặc 7 hoặc 9….
Nhà gái: Đại diệnhọ hàng, gia đình, cô dâu, bạn bè, một số cô gái chưa chồng để bê nhận tráp….
+ Về lễ vậtbao gồm cả lễ dẫn cưới (Thông thường):
1. Cau tươi:
2. Bánh cốm:
3. Hạt sen:
4. Chè:
5. Rượu:
6. Thuốc lá:
7. Bánh su xê (phu thê):
                        8. Lễ Tổ tiên: Số lễ tùy theo từng gia đình
9. Lễ Dẫn cưới: Tùy theo từng gia đình
Đó là những lễ vật thông thường theo tục lệ cổ truyền, chất lượng và số lượng tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện của từng gia đình. Tuy nhiên, số lượng nhất thiết phải là chẵn. Về lễ vật cho lễ này, cần phải tránh xu hướng phục cổ cực đoan (phục hồi tục thách cưới hay thách cưới trá hình).
Ý nghĩa của lễ vật dẫn cưới là: thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái. Nói theo cách xưa là: nhà trai được thêm người, còn nhà gái thì ngược lại, “Con gái là con người ta”. Mặt khác, lễ vật cũng biểu thị được sự quý mến, tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai.
Trong một chừng mực nào đó, đồ dẫn cưới cũng thể hiện được thiện ý của nhà trai: xin đóng góp một phần vật chất để nhà gái giảm bớt chi phí cho công việc hôn sự.
Rước lễ vật: Tất cả các lễ vật phải được sắp xếp gọn gàng và thẩm mỹ. Và nhất thiết phải được bày vào quả sơn son thếp vàng (hay mâm đồng đánh bóng, phủ vải đỏ). Có như thế mới nhấn mạnh được tính biểu trưng của lễ vật. Xưa, người đội lễ phải khăn áo chỉnh tề, thắt dây lưng đỏ. Nay, các cô gái đội lễ đã có áo dài đỏ thay thế nên không cần phải dùng thắt lưng đỏ nữa. Dù dùng phương tiện đi lại là: ô tô, xích lô, xe máy, hay đi bộ thì đoàn ăn hỏi cũng nên dừng lại cách nhà gái khoảng l00m, sắp xếp đội hình, rồi mới đội lễ vào nhà gái.Những lễ vật dẫn cưới theo phong tục cổ truyền đều thể hiện được ý nghĩa trên và ngày nay người Việt Nam vẫn tuân thủ.
Tiếp khách: Vì đây là một lễ trọng nên nhà gái phải chuẩn bị chu đáo hơn lễ chạm mặt. Tuy nhiên, do nội dung chủ yếu của lễ này là sự bàn bạc cụ thể, chính thức của hai gia đình về việc chuẩn bị lễ cưới, nên nhà gái không bày tiệc mặn mà chỉ bày tiệc trà. Nghi thức trao nhận lễ vật cũng nên trở thành nghi thức bắt buộc.
Cô dâu: Phải ngồi trong phòng cho đến khi nào chú rể vào đón hoặc cha mẹ gọi mới được ra. Ra mắt tổ tiên bằng cách thắp hương lên bàn thờ. Sau đó cô dâu sẽ cầm ấm trà đi từng bàn để rón nước mời khách.
Nhà gái: sau khi nhận lễ rồi đưa lên bàn thờ thắp hương, nhà gái sẽ lấy ra mỗi thứ trong đồ lễ ăn hỏi một ít để “lại quả”. Lưu ý là đối với cau thì phải xé chứ không được dùng dao để cắt. Khi nhà trai nhận lại tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp đóng tráp lại.
Biếu trầu: Xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,… ý nghĩa của tục này là sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chỗ.
Ngày nay, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn không cách xa nhau nhiều về mặt thời gian nên trong khi biếu trầu người ta thường kết hợp với đưa thiếp mời đến dự cưới. Có nhiều người phản đối việc duy trì tục này với lý dó là: những quà biếu này không được sử dụng, gây lãng phí, tốn kém cho nhà trai. Tuy nhiên, tục “biếu trầu” chỉ áp dụng đối với họ hàng hay một số bạn bè thân thiết, nếu không thì việc đưa thiếp mời sẽ không có tính biểu trưng.
3/ Lễ cưới: Người ta chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ cưới. Trước đó, cả hai nhà đã dựng rạp, sửa sang nhà cửa đón khách. Nhà trai chọn một người có tuổi,vai trên, “Nhiều con cháu, đủ bề”, song toàn,  ăn nói lưu loát làm trưởng đoàn, cùng họ hàng  gia đình, bạn bè chú rể và 1 sốthanh niênchưa vợ, gọi là phù rể đi đón dâu.
            Trước đây, người ta gọi lễ này là lễ rước dâu, trong ngôn từ của đời sống thường ngày người ta gọi là lễ cưới (dịch theo tiếng Hán là hôn lễ). Ý nghĩa của lễ này là: Công bố sự thành hôn của đôi trai gái, vì thế lễ này còn gọi là lễ thành hôn.
Sau khi đã vào nhà gái, nhà trai được mời an tọa. Hai bên giới thiệu nhau, mời uống trà, Vị đại diện nhà trai có ý kiến phát biểu với nhà gái và xin được rước cô dâu về. Nhà gái đáp từ đồng ý, sau khi được nhà gái cho phép, chú rể mới được vào phòng trong để trao hoa cho cô dâu và cùng cô dâu đến trước bàn thời thắp hương cúng Gia tiên rồi chào bố mẹ, họ hàng. Cha mẹ cô dâu dặn dò đôi vợ chồng trẻ về cách sống, về tình yêu thương, về đạo lý vợ chồng. Vị đại diện nhà trai đáp lời thay cho chú rể và xin rước dâu lên xe.
Nhà gái cùng theo xe hoa về nhà trai dự tiệc cưới. Trước đây, khi xe hoa (đám rước dâu) về tới cửa, nhà trai đốt pháo mừng. Nay, không có pháo nữa, người ta phải thế vào đó bằng cách khởi nhạc sống hoặc mở băng nhạc để tạo không khí vui vẻ, long trọng để nghênh tiếp cô dâu và nhà gái.
Đầu tiên, cô dâu và chú rể được cha mẹ dẫn đến bàn thờ để thắp hương lễ gia tiên, rồi chào họ hàng, bạn bè, khách khứa. .. Sau đó là lễ tơ hồng, (ngày nay, lễ tơ hồng không còn là một nghi thức có tính bắt buộc nữa) tùy từng gia đình, lễ này có thể làm, có thể không). Tiếp theo, cô dâu được dẫn vào phòng cưới, ngồi lên chiếc giường cưới do một người được chọn sẵn (Có nhiều vía may mắn, mạnh khỏe, đầy đủ) trải chiếu. Cuối cùng, nhà trai mời nhà gái và tất cả những người tham dự tiệc cưới.
Ngày nay,  nhiều gia đình ở Thành phố thường làm “ngược” tiến trình này  Họ không rước dâu về nhà mà rước thẳng đến phòng cưới (mà thực chất là phòng tiệc nhà hàng). Sau khi xong việc ở phòng cưới, cô dâu – chú rể mới về nhà chồng, gia đình nề nếp thì có lễ gia tiên, lễ tơ hồng, trải chiếu.
Về biểu trưng: Khoảng gần trăm năm qua, dân ta cũng đã cố gắng suy nghĩ – sáng tạo ra nhiều biểu trưng khác nhau cho lễ cưới (như đôi chim bồ câu, đèn lồng, trái tim, chữ lồng, mặt hai người hôn nhau,…) nhưng không thể thay thế được biểu trưng của chữ song hỷ.  Cho đến nay, và có lẽ mãi mãi, biểu trưng song hỷ vẫn là biểu trưng của đám cưới,  người không hiểu chữ Hán nhìn vào cũng hiểu và cảm nhận được ngay là đám cưới. Chữ song hỷ đã được đúc kết từ hàng ngàn năm, nó đã đạt đến độ hoàn thiện (cả về ý nghĩa xã hội lẫn tính hoàn mỹ).
Về đồ mừng cưới: Xưa, các cụ ta có tục mừng đỡ, người đến dự đám cưới tặng đôi vợ chồng trẻ cái gì đó cũng là điều hiển nhiên. Nhưng vấn đề đáng quan tâm hơn là về phương diện văn hóa, tặng quà cưới thế nào để người tặng và người nhận đều giữ được lễ?
           4/Lễ lại mặt: Lễ lại mặt (còn gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ), sau lễ cưới (2 hoặc 4 ngày), hai vợ chồng sẽ trở về nhà cha mẹ vợ, mang theo lễ vật để tạ gia tiên. Lễ vật cũng có trầu, cau, xôi, lợn… cha mẹ vợ làm cơm để mời chàng rể và con gái mình, hoặc sau đêm tân hôn, vợ chồng mới dắt nhau về nhà mẹ Vợ. Mọi việc suôn sẻ sẽ tổ chức tiệc mừng. Lễ lại mặt xưa là để cô dâu tỏ chữ hiếu với cha mẹ, mặt khác, còn có ý nghĩa cô ấy, chị ấy đã làm toại nguyện chàng trai.
            Ở một số trường hợp nếu xảy ra chuyện gì mà nhà trai không bằng lòng sau đêm hợp cẩn, thì lễ nhị hỉ lại có những chuyện không hay, nhưng trường hợp này rất hiếm.
– Lễ nộp cheo: là một nghi lễ phụ trong đám cưới, nhưng nhất thiết phải có. Không có bữa khao này thì đôi vợ chồng mới không được coi là thành viên của làng xóm. Trong bữa khao, chú rể đóng vai chính, anh ta ngoài việc phải lo bữa khao còn phải nộp một số vật liệu như gạch, ngói để tu bổ các công trình công cộng của làng xóm bên gái như đình, điếm, đường làng, chùa cổng… là một thủ tục nằm ngoài hôn thú nhưng không thể không có, vì vậy ca dao cổ có câu:
“Có cưới mà chẳng có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo không đinh”

3. Lễ tục Tang ma của người việt

            Đám tang hay đám ma, lễ tanglà một trong những phong tục quan trọng của Việt Nam. Bao gồm nhiều quy trình của những người đang sống thực hiện đối với người chết. Phong tục Tang Lễ được tổ chức khác nhau ở các dân tộc trên Việt Nam, mỗi một dân tộc có những nghi lễ tổ chức khác nhau mặc dù không nhiều nhưng đều có những bước cơ bản tương đối giống nhau ở nơi người Kinh cũng như các dân tộc thiểu số. Thậm chí trong tang lễ ngày nay có những điểm khác so với thời kỳ từ thế kỷ 20 trở về trước.
            Công việc sơ khởi
            Đối với những trường hợp người gần chết, người thân có thể phán đoán biết trước thì việc đầu tiên là hỏi xem người gần chết có trăng trối những gì, những lời nhắn nhủ lúc này được gọi là di ngôn, hỏi người đó có tự đặt lấy tên thụy (hay còn gọi là tên hèm) tức là tên sau này để khấn khi cúng cơm nên còn được gọi là tên cúng cơm. Kế tiếp dùng nước ngũ vị hương lau sạch sẽ thân người, thay đổi quần áo tươm tất. Khi người đó tắt hơi rồi, lấy chiếc đũa để ngang hàm gọi là cài hàm để cho răng khỏi nghiến vào nhau,  sau bỏ một vốc gạo và ba đồng tiền vào miệng, nhà giàu thì thường dùng ba miếng vàng sống, đây được gọi là ngậm hàm hoặc phạn hàm.
Trùng tang: Theo phong tục, ngày giờ người chết vừa tắt thở phải nhớ chính xác để đem cho thầy tự xem có bị rơi vào giờ trùng tang hoặc bị quỷ tinh ám ảnh hay không. Nếu gặp ngày giờ xấu thì phải nhờ thầy dùng bùa để tống xuất, lá bùa này được dán trên quan tài và cho vào những vỏ ốc chôn ở bốn phía ngôi mộ, hoặc bỏ vào quan tài một cỗ bài tổ tôm, quyển lịch Tàu hay lịch ta, tàu lá gói để trấn áp ma quỷ, hoặc khi đem chôn thì có một phường tuồng đóng vai thiên thần đi trước đám tang múa thành những đạo bùa yểm để trừ tà ma ở dọc đường hoặc ở mộ huyệt (trường hợp này mộ huyệt phải đào tam cấp).
Hạ tịch: Đưa người vừa mất xuống chiếu trải dưới đất 1 chốc rồi đưa lên lại, ý nghĩa người bởi đất sinh ra, khi chết lại về với đất (nhân sinh ư thổ, diệc hoàn ư thổ) hoặc để lấy đủ âm dương cho người chếthoặc hy vọng rằng việc này có thể hoàn sinh khí cho người đã mất.
Chon ngày giờ cho từng việc và tìm nơi đặt mộ, đào huyệt.
Cáo phó: Cáo phó là thông báo về tang lễ thường được đặt trước cổng tang gia hoặc gửi đến người thân thích. Ngày nay có thể đăng cáo phó trên các phương tiện truyền thônghoặc gọi điện thoại báo tin. Trên cáo phó phải ghi rõ tên người chết, ngày sinh và mất, và chi tiết về tang lễ như thời gian địa điểm làm lễ nhập quan và di quan…
            Khâm liệm và nhập quan
Khâm liệm là dùng vải để quấn người chết, thường thì người nhà dùng vải trắng (đối với gia đình khá giả dùng vải tơ lụa) làm đại liệm, tiểu liệm. Sau khi liệm xong, những người thân đứng quanh quan tài, nâng người chết bằng 4 góc của tấm vải tạ quan và đặt vào quan tài gọi là nhập quan. Trên quan tài đặt 1 chén cơm úp (2 chén cơm úp thành 1), trên có cắm đôi đũa và quả trứng gà luộc gọi là cơm bông, xưa có tục cướp cơm bông để cho trẻ ăn để phòng bệnh, quan tài phải quay đầu ra ngoài.
Thiết linh sàng, linh tọa: Linh sàng là giường của linh hồn, thường được lập ở phía đông, có quây màn và để gối như lúc sống. Linh tọa là bàn thờ đặt trước linh cữu, giữa linh tọa đặt bài vị bằng nan tre ghi họ tên hoặc ảnh người chết, 2 bên có đèn nến, trước có bát nhang, rượu và mâm ngũ quả.
Tang phục: Tục lệ xưa sau khi chết 4 ngày thì con cháu mới mặc đồ tang gọi là lễ thành phục. Tang phục được quy định như sau:
–         Con trai: đội mũ rơm quấn bẹ chuối, áo sô gai, cầm gậy (cha mất thì gậy tre, mẹ mất thì gậy vông vì quan niệm là công cha nặng hơn nghĩa mẹ).
–         Con dâu, con gái: áo sô gai, thắt lưng bện bằng bẹ chuối, áo xổ gấu hoặc không (tùy theo cha còn hay mẹ còn, con gái còn ở nhà hay đã xuất giá), đầu chít khăn tang.
–         Cháu nội: đội mũ mấn, khăn trắng, mặc áo thụng trắng.
–         Con rể, anh em trai: mặc áo thụng trắng.
–         Chị em gái: quấn vặn khăn trắng với tóc.
NĂM HẠNG TANG PHỤC (NGŨ PHỤC) LÀ GÌ?
Theo “Thọ mai gia lễ”, có năm hạng tang phục tuỳ theo quan hệ huyết thống và nghĩa tình phân biệt thân sơ:
1.Đại tang: Trảm thôi và tề thôi.
–         Quần áo sổ gấu gọi là trảm thôi: Con để tang cha.
–         Quần áo không sổ gấu gọi là tề thôi: Con để tang mẹ, vợ để tang chồng khi cha chưa mất.
–         Thời hạn: 3 năm, đời sau giảm bớt còn 2 năm 3 tháng (sau lễ giỗ đại tường 2 năm, thêm 3 tháng dư ai).
–         Áo sô, khăn sô có hai giải sau lưng (gọi là khăn ngang).
–         Nếu cha mẹ đều đã mất thì hai giải bằng nhau, nếu còn mẹ hoặc còn cha thì hai giải dài ngắn lệch nhau.
–         Con trai chống gậy: Tang cha gậy tre, tang mẹ gậy vông, mũ rơm quấn đầu, dây chuối, dây đai thắt lưng.
–         Thời nay, nhiều nơi đã bãi bỏ những tang phục này. ở thành phố nhiều nhà dùng băng đen theo tang chế châu Âu, theo ý chúng tôi, tiện hơn.
–         Con trai, con gái, con dâu đều để tang cha mẹ. (Kể cả đích mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, từ mẫu và dưỡng phụ).
–         Vợ để tang chồng.
–         Nếu con trưởng mất trước thì cháu đích tôn để tang ông bà nội cũng đại tang thay cha.
2. Cơ niên: Để tang một năm. Từ niên cơ trở xuống dùng khăn tròn, vải trắng, không gậy.
–         Cháu nội để tang ông bà nội.
–         Con riêng của vợ để tang bố dượng nếu bố dượng có công nuôi và ở cùng, nếu không ở cùng thì không tang; trước có ở cùng sau thôi thì để tang 3 tháng.
–         Con để tang mẹ đẻ ra mình nhưng bị bố rẫy (xuất mẫu), hoặc cha chết, mẹ lấy chồng khác (giá mẫu).
–         Chồng để tang vợ cả có gậy, nếu cha mẹ còn sống thì không gậy.
–         Cháu để tang bác trai bác gái, chú, thím và cô ruột.
–         Anh chị em ruột để tang cho nhau (cùng cha khác mẹ cũng tang một năm, cùng mẹ khác cha thì tang 5 tháng).
–         Cha mẹ để tang con trai, con gái và con dâu cả, kể cả con đi làm con nuôi nhà người.
–         Chú, bác, thím cô ruột để tang cho cháu ( con anh em ruột).
–         Ông bà nội để tang cho cháu trưởng (đích tôn).
–         Đích mẫu, kế mẫu, từ mẫu tang các con chồng, thứ mẫu tang con mình và con chồng như nhau đều một năm. Tang con dâu cả cũng một năm.
–         Con dâu để tang dì ghẻ của chồng (tức vợ lẽ cha chồng).
–         Rể để tang cha mẹ vợ (vợ chết đã láy vợ khác cũng vậy).
–         Nàng hầu để tang cha mẹ chồng, vợ cả của chồng, các con chồng cũng như con mình (các họ hàng bàng thân bên nhà chồng đều không tang).
3. Đại công: để tang 9 tháng.
–         Anh chị em con chú con bác ruột để tang cho nhau.
–         Cha mẹ để tang con dâu thứ hoặc con gái đã lấy chồng.
–         Chú, bác thím ruột để tang cháu (con gái đã xuất giá, con dâu của anh em ruột).
–         Cháu dâu để tang ông bà của chồng, chú, bác, thím ruột, hoặc cô ruột của chồng.
–         Mẹ để tang con dâu thứ và con gái riêng của chồng.
–         Con gái đã xuất giá để tang bác trai, bác gái, chú thím, cô ruột.
4. Tiểu công: Để tang 5 tháng.
–         Chắt để tang cụ. (Hoàng tang: Chít khăn vàng)
–         Cháu để tang anh chị em ruột của ông nội (ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô).
–         Con để tang vợ lẽ, nàng hầu của cha ( nếu cha giao cho nuôi mình thì để tang 3 năm như mẹ đẻ).
–         Cháu để tang đường bá thúc phụ mẫu và đường cô (anh chị em con chú bác ruột của cha).
–         Anh chị em con chú, bác ruột để tang cho vợ của nhau.
–         Anh chị em chung mẹ khác cha để tang cho nhau (vợ con của anh chị em ấy thì không tang).
–         Chú bác ruột để tang cho cháu dâu (con dâu của anh em ruột).
–         Ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô để tang cho cháu (tức là cháu nội của anh em ruột).
–         Ông bà nội để tang cho vợ cháu đích tôn hoặc cháu gái xuất giá.
–         Cháu ngoại để tang ông bà ngoại và cậu ruột, dì ruột (anh chị em ruột của mẹ, kể cả đối với anh chị em ruột của đích mẫu, thứ mẫu, kế mẫu).
–         Cháu dâu để tang cô ruột của chồng.
–         Chị dâu, em dâu để tang anh chị em ruột của chồng và con của những người đó (tức là cháu gọi bằng bác, bằng thím).
5. Ty ma Phục: Tang 3 tháng.
–         Chít để tang can (kỵ) nội (ngũ đại:  Hồng tang chít khăn đỏ).
–         Chắt để tang cụ nhà bác, nhà chú (tằng tổ bá thúc phụ mẫu và tằng tổ cô, tức là anh em ruột với cụ nội).
–         Cháu để tang bà cô đã lấy chồng (chị em ruột với ông nội).
–         Cháu để tang cô bá (chị em con chú bác ruột với bố).
–         Con để tang bố dượng (nếu trước có ở cùng, sau mới về bên nội).
–         Con để tang nàng hầu của cha.
–         Con để tang bà vú (cho bú mớm).
–         Cháu để tang tộc bá thúc phụ mẫu (anh em cháu chú, cháu bác với cha).
–         Chồng để tang vợ lẽ nàng hầu.
–         Anh chị em họ nội 5 đời để tang cho nhau.
–         Bố mẹ vợ để tang con rể.
–         Ông bà ngoại để tang cháu ngoại và cháu dâu ngoại.
–         Ông của chồng để tang cháu dâu.
–         Cụ để tang cho chắt nội.
–         Cháu để tang vợ cậu, chồng cô, chồng dì có cùng ở một nhà.
–         Anh chị em con cô ruột và bạn con dì ruột để tang cho nhau.
–         Cậu ruột để tang vợ của cháu trai
–         Cháu dâu để tang ông bà ngoại của chồng, cậu ruột, dì ruột chồng
–         Cháu dâu để tang các ông bà anh chị em ruột với ông nội chồng.
–         Chắt dâu để tang cụ nội của chồng.
–         Cụ để tang chắt nội trai gái.
–         Ông bà để tang các cháu gái của con nhà chú, nhà bác.
–         Tang bên cha mẹ nuôi:
–         Kỵ bên cha nuôi thì 3 tháng, cụ bên cha nuôi thì 5 tháng, ông bà thì một năm.
–         Cha mẹ nuôi thì áo bằng gấu, hoặc sổ gấu 3 năm có cả gậy.
–         Từ ông bà trở lên nếu mình thừa trọng cũng sổ gấu 3 năm.
–         Ông bà sinh ra mẹ nuôi thì 5 tháng, còn thì đều không có.
–         Tang họ nhà mình (Đã là con nuôi người khác, để tang bên họ của mình):
–         Ông bà sinh ra cha thì 9 tháng.
–         Cha mẹ sinh ra mình thì 1 năm có gậy.
–         Bác trai bác gái, chú, thím và cô là anh chị em ruột với cha thì đều 9 tháng. Cô đã giá thì 5 tháng.
–         Anh chị em ruột thì 9 tháng, chị dâu, em dâu thì 3 tháng, chị em đã xuất giá thì 5 tháng.
–         Ông bà sinh ra mẹ thì 3 tháng.
–         Xét trong lễ nói rằng: Con gái đã xuất giá thì các tang có giáng, song đi lấy chồng, hoặc phải chồng rẫy bỏ, hoặc chồng chết, con lại chẳng có, lại trở về nhà cũng như chưa lấy chồng, tang chẳng có giáng
–         Nếu đương để tang cha mẹ được một năm mà chồng rẫy bỏ thì phải tang cha mẹ 3 năm, hoặc để tang cha mẹ được 1 năm đã trừ phục đoạn thì chẳng được để lại 3 năm, dù phải chồng dẫy trước, sau mới để tang cha mẹ chưa đủ 1 năm mà chồng mới gọi về thì chẳng nên về vội phải nên để trọn 3 năm.
1.      Trường phục: có ba loại:
2.      Trưởng trường: Từ 16-19 tuổi
3.      Trung trường: Từ 12-15 tuổi
4.      Hạ trường: Từ 8-11 tuổi
–         (Đều lấy thứ tự giáng một bậc).
–         Ví dụ: Giai đã lấy vợ, gái đã lấy chồng, dẫu còn trẻ cũng không thể gọi là trường được, nhưng vốn mình phải tang 1 năm trưởng trường giáng xuống 9 tháng, trung trường giáng xuống 7 tháng, hạ trường giáng xuống 5 tháng.
–         Như vốn tang 9 tháng, trưởng trường giáng 7 tháng, trung trường giáng 5 tháng, hạ trường giáng 3 tháng, các trường hợp khác đều như thế mà suy.
Phúng điếu: Phúng điếu là sự thăm hỏi, giúp đỡ bằng hình thức tiền bạc, nhang đèn hoặc hoa quả, liễn, văn điếu… Theo tục lệ thì khi chưa mặc tang phục thì không được tiếp khách đến phúng điếu. Khi khách phúng điếu vái lạy người chết thì tang gia phải lạy trả lễ một nửa số vái. Ngày nay có 1 số gia đình không nhận tiền phúng điếu, việc này được ghi rõ trên cáo phó.
Thổi kèn giải: Trong những ngày còn quan tài trong nhà, gia chủ thường mời những ban nhạc đến thổi kèn, sáo, đánh đàn, trống. Ngày nay, có thêm những ban kèn tây, đàn guitar, đàn ca tài tử cải lương đến hát.Các giai đoạn trong tang lễ:
Di quan:
–         Chuyển cửu
–         Nghi trượng đi đường
–         Nhà trạm
–         Hạ Huyệt
Những việc sau khi chôn:
–         Lễ 3 ngày, 35 ngày
–         Tuần chung thất hay còn gọi là tứ cửu tức (49 ngày)
–         Tuần Tốt khốc (100 ngày)
–         Giỗ đầu (Tiểu tường)
–         Giỗ hết tang (Đại tường)
–         Đàm tế (đốt tang phục).
–         Cải táng
           Một số lễ tục khác cụ  thể như sau:
CÚNG NGU:An táng xong trở về nhà cúng ngu, ngu có nghĩa là yên ổn. Ngày đầu gọi là sơ ngu, ngày thứ hai gọi là tái ngu, ngày thứ ba gọi là tam ngu. Khi người mới mất, hồn phỏch cũn vật vờ nờn phải cỳng ngu 3 lần để hồn phách được mau chóng nhẹ nhàng siêu thoát.
VIẾNG MỘ ĐẮP MỘ:Liên tiếp trong 3 chiều sau khi chôn, chiều nào con cháu cũng phải đến viếng mộ, thắp nhang, đốt lửa.
Chiều thứ ba cúng Tam ngu, cũn gọi là cúng “Mở cửa mả”, rước thầy pháp đến yểm bùa, dùng gà trắng còn sống để cúng Thổ Thần; dùng lươn, cá chép, ốc, quạ, để yểm trừ hung thần đến quấy nhiễu người mới chết. Cúng xong, thả gà ra, con gà ngơ ngơ ngáo ngáo như đồ mất hồn nên gọi là “gà mở cửa mả”. Con cháu sửa sang nấm mộ lại cho đẹp, hay rước thợ xây nhà mồ, xây mộ, dựng bia.
CÚNG CƠM HẰNG NGÀY:An táng rồi, mỗi ngày cúng cơm 2 bữa và khóc. Cúng 1 bát cơm úp, 1 quả trứng luộc, hay món ăn nào mà người chết lúc còn sống thích.
CHUNG THẤT:Mỗi tuần cúng thất 1 lần, kể cả 2 ngày Sóc, Vọng trong tháng.
49 ngày là tuần thất sau cùng, cúng lớn, rước tăng ni về nhà tụng kinh, hay đem vào chùa làm chay, tụng kinh sám hối để cầu cho vong hồn sớm siêu thăng tịnh độ. Theo nhà Phật, sau 49 ngày linh hồn người chết mới được đầu thai kiếp khác, nên việc cúng kính, cầu siêu, bố thí, cầu nguyện cho người chết trong vòng 49 ngày đầu là vô cùng cần thiết và hệ trọng hơn hết.
TỐT KHỐC:Đúng 100 ngày có lễ cúng lớn gọi là tốt khốc (thôi khóc), xả tang cho những người để tang 3 tháng 10 ngày. Từ đây về sau không còn cúng cơm hằng ngày nữa.
TIỂU TƯỜNG:Là lễ cúng lớn, còn gọi là làm tuần giáp năm. Ai để tang 1 năm thì được xả tang, các đồ hung phục như sô gai, gậy, mũ được trừ bỏ nhưng vẫn mặc tang phục cho đủ 3 năm.
ĐẠI TƯỜNG:Tron 2 năm có lễ cúng lớn gọi là lễ Đại tường, hay gọi là làm Tuần món. Nếu không có lễ Đàm Tế, thì lễ Đại Tường xả tang cho người để tang 3 năm, Tang chủ cùng con cháu rước Thần chủ (tức bài vị) người quá cố đến thờ tại bàn thờ tổ tiên, triệt bỏ linh tọa cùng những đồ thờ khác.
Làm Tuần giáp năm tính đủ 12 tháng, làm Tuần món tính đủ 24 tháng: “Đám giỗ tính nhuần làm tuần tính đủ”.
ĐÀM TẾ:Sau lễ đại tường chọn 1 ngày tốt trong 3 tháng dư để làm lễ trừ phục, gọi là lễ Đàm tế, gồm 3 lễ:
1. Lễ sửa mộ
2. Lễ đàm tế: đốt khăn tang, tang phục, đốt các thứ thuộc phần lễ tang, bỏ bàn thờ tang, thu hết các bức trướng, liễn.
3. Lễ rước linh vị: Chép sẵn linh vị mới phủ vải đỏ, đốt linh vị cũ cùng với khung đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Rước linh vị, bát hương, chân dung đưa lên bàn thờ gia tiên.
ĐỐT ĐỒ MÃ:Trong khoảng thời gian giữa Tiểu và Đại tường có 2 kỳ đốt mã, gọi là đốt mã biếu đồ và đốt mã dâng đồ cho người chết dùng. Thường đốt vào rằm tháng Bảy, đốt vào ngày Tiểu tường, hay Đại tường. Đồ mã được thợ mã làm, gồm càc thứ: nhà cửa, xe, ngựa, áo, quần, chăn, màn, hòm, rương, mâm, bát, giày, dép…
CẢI TÁNG:Sau ba, bốn năm thường làm lễ cải táng. Có nhiều lý do để cải táng như: chỗ ngôi mả bị ngập lụt, bị mối kiến, bị sụp lở, cây cối khô chết; trong nhà có người dâm loạn điên cuồng, ốm đau, kiện tụng… hay tang chủ nhờ thầy địa tìm được chỗ địa linh. Trước ngày cải táng làm lễ cáo Từ đường, trong ngày cải táng làm lễ khấn Thổ Công. Khi khai mả, nhặt hài cốt xếp vào 1 cái tiểu sành. Khi mở nắp quan tài, lấy chiếu che kín không cho nắng gió xâm vào làm hư hại hài cốt. Cái tiểu sành dưới đáy có lổ thoát nước, hài cốt được rửa sạch sẽ bằng rượu và Hương nhu.
Trước khi xếp xương cốt, lót 1 tấm vải lụa: 1 nửa nằm dưới lòng tiểu sành, nửa còn lại bọc lên đầu đắp xuống chân. Xong rưới nước hương bưởi, hương thơm… Có nhiều gia đình khi cải táng đem hài cốt hỏa thiêu lấy tro đựng vào bình sứ để thờ tại chùa, hay trên bàn thờ gia tộc. Nhà phú quý dựng quan quách để khâm liệm như khi hung táng. Khi cải táng, con cháu bịt khăn trắng trên đầu, 3 tháng sau mới bỏ.
KỴ NHẬT:Từ khởi thủy, đặt ra đám giỗ là để tưởng nhớ, tưởng niệm người quá cố với lòng thương yêu, tôn kính và biết ơn người đã sinh thành, dưỡng dục và gây dựng cơ nghiệp cho mình.
Kỵ nhật là ngày giỗ, ngày kỵ của Ông, Bà, Cha, Mẹ… Cúng chiều hôm trước gọi là cúng tiên thường (nghĩa là nếm trước), cúng ngày hôm sau gọi là cúng Chính kỵ. Trong lễ cúng phải có 1 bát cơm úp và 1 quả trứng luộc. Cỗ bàn tùy nhà giàu, nghèo; mời ít hay nhiều khách khứa. Bà con khách khứa đến dự thường mang trà rượu, bánh trái đến cúng.
Một số lưu ý:
Cửu tộc (9 đời) gồm: Cao (Sơ), Tằng (Cố), Tổ (Nội), Phụ (Cha), Đời mình, Tử (Con), Tôn (Cháu), Tằng tôn (chắt), Huyền tôn (chít). Thường chỉ làm giỗ 4 đời là Cao Tằng Tổ Phụ, từ Cao trở lên gọi là Tổ tiên không cúng riêng nữa mà nhập chung vào cúng ở Lễ Xuân tế.
Thường con cháu chết dưới 18 tuổi gọi là chết yểu, khi mãn tang yết cáo với tổ tiên xin được thờ theo tổ tiên, không có lễ giỗ riêng.

4. Cách tính trùng tang và xem ngày tẩm liệm chôn cất.

Xưa nay trong dân gian, thường có những cảnh tai ương trong các gia đình, dòng họ, có những dòng họ cứ mỗi năm lại chết một người; nhanh hơn mỗi tháng chết một người; thậm chí có khi ba ngày, hoặc bảy ngày sau đã có người ra đi tiếp theo. Hiện tượng này được gọi là Trùng tang.
Tôi xin tập hợp lại những nghiên cứu sách vở của mình, tổng kết lại thành một nội dung bao gồm cách tính trùng tang, phương pháp xem ngày giờ nhập liệm, giờ chôn cất, kiêng cữ trong gia đình. Từ đó, khi trong nhà có người chết, ta có thể biết được ngay cái chết của thân nhân nhà mình có gặp trùng tang hay không để kịp thời xử lý.
4.1. Phép tính trùng tang:
Tị
Trùng tang
Ngọ
Thiên di
Mùi
Nhập mộ
Thân
Trùng tang
Nữ khởi tính tại Thân theo chiều nghịch
Thìn
Nhập mộ
Dậu
Thiên di
Mão
Thiên di
Tuất
Nhập mộ
Dần
Trùng tang
Namkhởi tính tại   Dần theo chiều thuận
Sửu
Nhập mộ
Thiên di
Hợi
Trùng tang
4.2. Ý nghĩa của Trùng tang, Nhập mộ và Thiên di:
– Nhập mộ: nghĩa là người chết bởi đến đó hết số rồi nên phải chuyển kiếp. Người ra đi được nằm xuống vĩnh viễn, không còn vương vấn trần ai. Thể hiện sự an lành, yên nghỉ. Chỉ cần khi tính trùng tang mà gặp năm tuổi là nhập mộ, nghĩa là người chết đã hết số, thì không còn oan ức gì mấy, trùng tang được giảm nhẹ tối thiểu, tùy thuộc vào hạn trùng tang của người chết trước đó trong dòng họ đã được hóa giải hay chưa. Người chết mà được năm, tháng, ngày, giờ đều nhập mộ thì được coi là cái chết phúc đức để đời cho con cháu.
– Thiên di: là dấu hiệu ra đi số do “Trời định”, người mất lúc đó được trời đưa đi. Sự ra đi này nằm ngoài mong muốn của người mất, nhưng cũng là hợp với lẽ trời. Số này thường được giải thích theo hai lý do là do kiếp trước hoặc là tiên, hoặc là quỷ sứ bị đầu thai dáng làm kiếp người, hết thời gian tu luyện, bị Trời bắt đem về lại.
– Trùng tang (kiếp sát): là dấu hiệu ra đi không hợp số phận, chưa tới số mà phải chết oan uổng, có sự oán thán nào đó của cõi âm, gây ảnh hưởng tới người ở lại. Theo quan niệm xưa, nếu gặp phải trùng tang mà không có “Nhập mộ” nào thì cần phải làm lễ “trấn trùng tang”
4.3. Phép tính để nhận biết trùng tang:
Theo sách Tam Giáo Chính Hội:
        “ – Nam nhất thập khởi Dần thuận liên tiến,
 – Nữ nhất Thập khởi Thân, nghịch liên tiến,
 – Niên hạ sinh Nguyệt,
 – Nguyệt hạ sinh Nhật,
 – Nhật hạ sinh Thời.Ngộ:
 – Tý – Ngọ – Mão – Dậu: Thiên di.
– Dần – Thân – Tỵ – Hợi: Trùng tang.
– Thìn – Tuất – Sửu – Mùi: Nhập mộ cát dã”.
Người chết dưới 10 tuổi không tính trùng tang. Trường hợp còn lại, cứ theo thứ tự bắt đầu từ năm – tháng – ngày giờ mà tính theo công thức:
– Nam khởi tính trùng tang tại cung Dần và đi thuận (theo chiều kim đồng hồ);
– Nữ khởi tính tại cung Thân và đi ngược (theo mũi tên ở như bảng trên)
 Ví dụ:Một người 38 tuổi, mất vào giờ sửu, ngày 8 tháng 5 năm 2012. Căn cứ bản đồ 12 chi giáp trên mà tính:
– Nếu người đó là nữthì “nhất thập khởi Thân nghịch liên tiến” mà tính thì 10 tuổi tại thân, 20 tuổi tại Mùi, 30 tuổi tại Ngọ. đến đây số tuổi chẵn đã hết ta bắt đầu tính tiếp tuổi lẻ: 31 tại tị, 32 tại thìn,…–> 38 tại Tuất là Nhập mộ, suy ra người nữ này đã hết số, có thể hóa giải được tháng, ngày, giờ dù có rơi vào trùng tang.
– Nếu người đó là namthì “nhất thập khởi Dần thuận liên tiến ”, theo chiều thuận ta có 10 tuổi tại Dần, 20 tại Mão, 30 tại Tị, 31 tại Ngọ,…–> 38 tại Tý, nhằm cung Thiên di. Bấy giờ ta tính tháng mất ở cung kế tiếp tháng 1 tại sửu, tháng 2 tại Dần,…, tháng 5 rơi vào cung Tị là Trùng tang; Tính ngày mùng 01 từ cung tiếp theo là Ngọ, mùng 2 là Mùi,…, mùng 8 là Nhập mộ; Tính giờ tý từ cung tiếp theo là Dần, tới giờ Sửu nhằm cung Thiên Di. Tổng kết lại, mạng nam này có hai Thiên di, một Nhập mộ, một Trùng tang. Người này có số trời định, lại mất vào ngày Nhập mộ, nên Trùng tang cũng đã được hóa giải, không cần phải lo lắng nữa.
4.4. Chết nhằm ngày thần trùng:
– Tháng 1,2,6,9,12: Chết nhằm ngày Canh Dần, Canh Thân là phạm “Lục Canh Thiên Hình Thần trùng”. Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng
– Tháng 3: Chết nhằm ngày Tân Tị, Tân Hợi là phạm ” Lục Tân Thiên Đình Thần trùng”. Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng
– Tháng 4: Chết nhằm ngày Nhâm Dần, Nhâm Thân là phạm “Lục Nhâm Thiên Lao Thần Trùng “. Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng
– Tháng 5: Chết nhằm ngày Quý Tị, Quý Hợi là phạm “Lục Quý Thiên Ngục Thần Trùng”. Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng;
– Tháng 7: Chết nhằm ngày Giáp Dần, Giáp Thân là phạm “Lục Giáp Thiên Phúc Thần Trùng”, Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng;
– Tháng 8: Chết nhằm ngày Ất Tị, Ất Hợi là phạm “Lục Ất Thiên Đức Thần Trùng “. Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng;
– Tháng 10: Chết nhằm ngày Bính Dần, Bính Thân là phạm “Lục Bính Thiên Uy Thần Trùng”. Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng;
– Tháng 11: Chết nhằm ngày Đinh Tị, Đinh Hợi là phạm “Lục Đinh Thiên Âm Thần Trùng”, Nếu gặp thêm năm tháng cũng vậy thì trùng tang càng nặng
4.5. Mức độ nặng nhẹ của trùng tang:
– Nếu có 4 lần tính Trùng tang (năm, tháng, ngày, giờ) thì gọi là Trùng tang thất xa, có thể có tới 7 người chết theo. Đây là loại trùng tang nặng nhất;
– Nếu có 3/4 lần tính Trùng tang thì gọi là Trùng tang tam xa, có thể có tới 5 người chết theo;
– Nếu có 2/4 lần tính Trùng tang thì gọi là Trùng tang nhị xa, có thể có tới 3 người chết theo
– Nhẹ nhất là một lần, gọi là Trùng tang nhất xa, một người chết theo.
Tuy nhiên, hạn trùng tang có thể tự hóa giải nếu người chết có tuổi rơi vào cung Nhập mộ.
4.6. Các loại Trùng tang khác:
Trùng tang liên táng:
– Tuổi Thân Tý Thìn chết năm tháng ngày giờ Tỵ
– Tuổi Dần Ngọ Tuất chết năm tháng ngày giờ Hợi
– Tuổi Tỵ Dậu Sửu chết năm tháng ngày giờ Dần
– Tuổi Hợi Mão Tị chết năm tháng ngày giờ Thân
Chết vào ngày giờ trên gọi là ngày gọi là Cướp Sát (hay Kiếp sát). Nếu người bị vào trường hợp trên rất là nguy hiểm cho gia quyến, họ tộc, nhanh có thể là 3 giờ, 3 ngày, 3 tháng, có người chết theo.
5.7. Tính giờ nhập liệm, hạ huyệt:(dùng cho cả trường hợp không trùng tang)
–  Việc tính giờ hành sự tang lễ cho người chết không giống như chọn ngày hành sự công việc của người sống, chỉ chọn giờ hoàng đạo là đủ. Mà giờ nhập liệm và ngày chôn phải là ngày, giờ Nhập mộ (Thìn – Tuất – Sửu – Mùi). Tuy nhiên Thìn nằm trong “Long – Hổ – Kê –  Xà Tứ kỵ”, nên bất đắc dĩ mới dùng. Vị chi còn lại Tuất, Sửu, Mùi để tính. Từ lúc người thân trút hơi thở cuối cùng, gia quyến cần xem các giờ Tuất, giờ Sửu, giờ Mùi của thời gian kế tiếp xem giờ nào trong số bốn giờ kể trên trùng vào cung hoàng đạo thì chọn để nhập liệm. Theo cách đó, tiếp tục coi xem trong các ngày, giờ Tuất, Sửu, Mùi tiếp theo, để chọn ngày giờ hạ huyệt. Giờ là quan trọng nhất, nếu không chọn được ngày Nhập mộ có hoàng đạo thì cần có giờ Nhập mộ (Tuất, Sửu, Mùi) hoàng đạo cũng vẫn tốt.
–  Tuyệt đối kỵ các ngày giờ: Dần – Thân – Tị – Hợi là giờ Trùng tang không dùng để nhập liệm hay hạ huyệt được.
–  Khi không thể đợi được ngày giờ tốt trong cung Tuất – Sửu – Mùi, thì có thể sử dụng ngày giờ của cung Thiên di: Tý – Mão – Ngọ để hành sự tang lễ cũng tàm tạm được.
4.8. Kiêng cữ khi nhập liệm:
  • Đối với người thân trong nội tộc, khi có trùng tang không được tham gia nhập liệm, mà cần phải nhờ người ngoài hoặc họ xa bên ngoại thực hiện.
  • Nhưng nhờ người ngoài vẫn phải: Long – Hổ – Kê – Xà tứ kỵ sinh nhân ngoại, nghĩa là người tuổi Thìn, tuổi Dần, tuổi Dậu, tuổi Tị không bao giờ được đứng nhìn nhập liệm, kế cả trường hợp không trùng tang; ngoài ra kị người có cung phi bát trạch xung khắc với vong mệnh;
  • Không hành lễ người chết trùng tang trong nhà, mà phải liệm tại nhà táng công cộng, hoặc quàn tại chùa. Gia quyến không được khóc thành tiếng khi nhập liệm;

5. Một số vận dụng xem tuổi, xem ngày cơ bản.

5.1.Tính tuổi Kim lâu (cưới hỏi, làm nhà):
Hiện nay có rất nhiều phương pháp tính tuổi xây nhà. Nhưng dưới đây là phương pháp phổ biến trong dân gian và được thẩm định trên thực tế trong xã hội Đông phương. Bạn đọc nên biết rằng phương pháp này đúng thì cũng chỉ là một yếu tố cần, nhưng không phải duy nhất quyết định sự tốt xấu khi xây cất. Còn nhiều yếu tố khác theo phương pháp của phong thủy cần tìm hiểu và áp dụng. Phương pháp nhiều người áp dụng là phương pháp lấy số tuổi chia cho 9 số dư là 1,3,6,8 là tuổi kim lâu. Hoặc phương pháp tính tắt là lấy tổng cá số của tuổi cần xem nếu là 1,3,6,8 là tuổi kim lâu Ví dù: 21 = 1+2=3. Tôi thấy phương pháp này có quy luật chặt chẽ  theo  mênh và sao hạn  tử vi nên hay dùng.
Lạc Việt — Văn Vương — Trực Niên(Nam) —Trực Niên(Nữ)
Cấn (Thân)–Khôn (Thân)–La (La Hầu) ——-Kế (Kế Đô)—–
Chấn —— Đoài ——- Thổ (Thổ Tú)—— Hỏa (Vân Hớn)–
Khôn (Thê)–Kiền (Thê)– Thủy (Thủy Diệu)– Mộc (Mộc Đức)–
Ly ——– Khãm ——- Kim (Thái Bạch)— Nguyệt (Thái Âm)
Trung —– Trung —— Nhật (Thái Dương)- Thổ (Thổ Tú)—
Tốn (Tử)— Cấn (Tử)—- Hỏa (Vân Hớn)—– La (La Hầu)—-
Đoài —— Chấn ——- Kế (Kế Đô)——– Nhật (TháiDương)
Càn (Súc)– Tốn (Súc)— Nguyệt (Thái Âm)– Kim (Thái Bạch)
Khãm——- Ly ——— Mộc (Mộc Đức)—– Thủy (Thủy Diệu)
Lac viêt:
Cấn (Thân) — 10,19,28,37,46,55,64,73,82,91,100
Chấn ——— 11,20,29,38,47,56,65,74,83,92,101
Khôn (Thê) — 12,21,30,39,48,57,66,75,84,93,102
Ly ———– 13,22,31,40,49,58,67,76,85,94,103
Trung ——– 14,23,32,41,50,59,68,77,86,95,104
Tốn (Tử) —– 15,24,33,42,51,60,69,78,87,96,105
Đoài ——— 16,25,34,43,52,61,70,79,88,97,106
Càn (Súc) —- 17,26,35,44,53,62,71,80,89,98,107
Khãm———- 18,27,36,45,54,63,72,81,90,99,108
Văn Vương:
Khôn (Thân) — 10,19,28,37,46,55,64,73,82,91,100
Đoài ——— 11,20,29,38,47,56,65,74,83,92,101
Kiền (Thê) — 12,21,30,39,48,57,66,75,84,93,102
Khãm ——— 13,22,31,40,49,58,67,76,85,94,103
Trung ——– 14,23,32,41,50,59,68,77,86,95,104
Cấn (Tử) —– 15,24,33,42,51,60,69,78,87,96,105
Chấn ——— 16,25,34,43,52,61,70,79,88,97,106
Tốn (Súc) —- 17,26,35,44,53,62,71,80,89,98,107
Ly ———– 18,27,36,45,54,63,72,81,90,99,108
5.2.Tính tuổi Tam tai:
* 12 con Giáp được chia làm 4 tam hợp: Khi vào vận tam tai thì hay khốn đốn, trắc trở, vất vả. Đặc biệt là khi cả vợ chồng cùng nằm trong tam hợp tuổi nói trên vì đôi bên đều phải mệt mỏi cùng lúc. Mức độ cộng hưởng sẽ làm ảnh hưởng nặng đến gia đình. Đó cũng là thiệt thòi của các tuổi hợp. Nếu vợ chồng không cùng tam hợp thì hạn sẽ đỡ áp lực hơn.
Tuổi Thân Tí Thìn hành Thủy
Tuổi Dần Ngọ Tuất hành Hỏa
Tuổi Tỵ Dậu Sửu hành Kim
Tuổi Hợi Mão Mùi hành Mộc
* Các năm mà nhóm tam hợp gặp hạn tam tai:
– Các tuổi Thân, Tí, Thìn: Tam tai tại các năm: Dần, Mão, Thìn.
– Các tuổi Dần, Ngọ, Tuất: Tam tai tại các năm: Thân, Dậu Tuất.
– Các tuổi Hợi, Mão, Mùi: Tam tai tại những năm: Tỵ, Ngọ, Mùi.
– Các tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: Tam tai tại những năm: Hợi, Tý, Sửu.
* Tổng hợp các nhận định về hạn Tam tai:
– Hạn tam tai là hạn của 3 năm liên tiếp đến với mỗi tuổi. Trong một đời người, cứ 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai. Thường thì hạn năm giữa là nặng nhất.
5.3.Tính tuổi Hoang ốc, Địa sát, Thọ tử (Vận dụng khi làm nhà):
Những tuổi gặp Hoang ốc, Địa sát, Thọ tử: 21, 23, 24, 27, 29, 30, 32, 33, 36, 38, 39, 41, 42, 45, 47, 48, 50, 51, 54, 56, 57, 60, 63, 65, 66, 69, 72, 74, 75.
Như vậy, nếu xét kỹ đời người từ 21 đến 75 tuổi, chỉ có ít năm là không gặp các hạn kim Lâu, Hoang Ốc, Địa Sát, Thọ Tử mà thôi. Đó là chưa kể những năm bị hạn Tam tai, nên rốt cuộc việc xây hoặc mua nhà là rất hạn chế.
5.4.Tính tháng đại lợi khi cưới hỏi:
Về tháng ĐẠI LỢI: Nếu cưới rước dâu luận tháng theo tuổi nàng dâu, còn gởi rể thì phải luận tháng theo tuổi chàng rể. Nên có câu “Luận nữ mạng lợi ngoạt, như nạp tế luận nam mạng. Phàm hành giá đại lợi ngoạt như tiền, bá vô cấm kỵ”: Cưới rưóc dâu luận tháng theo tuổi náng dâu, còn bắt rể luận tháng theo tuổi chàng rể. Phàm cưới gả được tháng đại lợi như trên, không có điều gì cấm kỵ. Ở đây nói không cấm kỵ tức không kỵ đôi bên suôi gia, nàng dâu, chàng rể hay ông mai mà thôi.
Xem bảng tóm lược dưới đây:
Năm sanh
Tháng Đại Lợi
Tháng Tiểu Lợi
Tháng Kỵ Mai
Tháng Kỵ Ông Cô
Tháng Kỵ Cha Mẹ Gái
Tháng Kỵ Phu Chủ
Tháng Kỵ Nữ Thân
Tý-Ngọ
6, 12
1, 7
1, 7
2, 8
3, 9
4, 10
5, 11
Sửu-Mùi
5, 11
4, 10
4, 10
3, 9
2, 8
1, 7
6, 12
Dần-Thân
2, 8
3, 9
3, 9
4, 10
5, 11
6, 12
1, 7
Ngọ-Dậu
5, 7
6, 12
6, 12
5, 11
4, 10
3, 9
2, 8
Thìn-Tuất
4, 10
5, 11
5, 11
6, 12
1, 7
2, 8
3, 9
Tỵ-Hợi
3, 9
2, 8
2, 8
1, 7
6, 12
5, 11
4, 10
6. Một số Quan niệm Nho giáo được xem là chuẩn mực con người.
            Tam Tòng, Tứ Đức – Tam Cương, Ngũ Thường là thuyết của Khổng Tử đặt ra làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt, văn hóa chính trị và an sinh xã hội :
– Tam cương và Ngũ thường là lẽ đạo đức mà Nam giới phải theo.
– Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà Nữ giới phải theo.
Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức thì xã hội được an bình.
+ Tam cương:Tam là ba, Cương là giường mối. Tam cương là ba mối quan hệ: Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử (cha con), Phu Phụ (vợ chồng).
1. Quân thần   – Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.
– Nghĩa là: dù vua có bảo thần chết đi nữa thì thần cũng phải tuân lệnh, nếu ko tuân          lệnh thì xem như không trung với vua.
2. Phụ tử:        – Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu.
– Nghĩa là: cha bảo con chết, con không chết thì con không có hiếu.
3. Phu phụ      – Phu xướng phụ tùy.
– Nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo.
+ Ngũ thường: Ngũ là năm, Thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng    có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
1. Nhân : Lòng yêu thương đối với vạn vật.
2. Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
3. Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
4. Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
5. Tín : Phải giữ đúng lời hứa.
+ Tam tòng: Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo
1. Tại gia tòng phụ : Người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
2. Xuất giá tòng phu : Lúc lấy chồng phải theo chồng.
3. Phu tử tòng tử:  Nếu chồng qua đời phải theo con.
+ Tứ đức: Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có.
1. Công:  Khéo léo trong việc làm.
2. Dung:  Hòa nhã trong sắc diện.
3. Ngôn :  Mềm mại trong lời nói.
4. Hạnh :  Nhu mì trong tính nết.
                                                                                    – Hết-

Trang 1/Tổng số 11

Bài viết cùng chuyên mục :

Xem thêm

Ngày 23 tháng Chạp và Sự tích Tết ông Công, ông Táo

Hàng năm, năm hết Tết đến, vào ngày 23 tháng Chạp (Âm lịch), các gia …