Trang chủ / Tư liệu / Phong tục - Tập quán / Họ Tộc và Ngày giỗ

Họ Tộc và Ngày giỗ

Sự hình thành Họ tộc

“Họ” 族(tộc) theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ.. Khi đó, Họ là họ bộ tộc, đó là lý do người Anh và Pháp gọi là “patronym(e)” (họ người cha) để phân biệt với “nom de famille / family name” (tên gia đình). Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác định cá thể trong một toàn thể. “Họ” là để phân biệt huyết thống, cho ta thấy nguồn gốc ông cha…, “tên” để phân biệt người này với người khác giữ những người cùng họ.
Chúng ta đều biết theo truyền thuyết và dã sử thì tiền thân nước ta khởi từ thời Hồng Bàng. Đó là thời kỳ bắt đầu từ năm 2879 tCn vua Kinh Dương Vương (涇陽王, tức Lộc Tục 祿續, con Đế Minh, chắt Viêm Đế Thần Nông炎帝神農) với quốc hiệu Xích Quỷ赤鬼 và kết thúc vào năm 258 tCn thời Thục Phán 蜀泮. Cương vực vương quốc của Kinh Vương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay). Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm 崇纜, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân 貉龍君:

“Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra dòng lui điu.”

Lạc Long Quân (Sùng Lãm,崇纜) lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ 甌姬, đẻ một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua. Phong sử có câu:

“Chàng về thiếp một theo mây,
Con thơ để lại chốn này ai nuôi ?”

Từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỉ được chia ra thành những nước nhỏ, gọi là Bách Việt 百越. Đầu thời kỳ đồ đồng, người Việt gồm khoảng 15 nhóm Lạc Việt 貉越 khác nhau sống trên vùng núi miền Bắc và miền châu thổ sông Hồng và hơn 12 nhóm Âu Việt 甌越 sống ở vùng Đông Bắc. Đến năm 257 tCn Thục Phán 蜀泮 thống nhất Lạc Việt của Hùng Vương với Âu Việt của mình thành nước Âu Lạc 甌貉 và đây chính là tiền thân trực tiếp của Đại Việt 大越 sau này và Việt Nam ngày nay. Nếu vậy tổ tiên của người Việt chỉ gồm 27 nhóm và nếu ngày ấy đã có “họ” thì mỗi nhóm (thị tộc) một họ thì ta chắc chỉ có ngần ấy họ và phải khác với chữ chỉ họ của người Hán và các “họ” trong truyền thuyết như: Kinh, Lạc, Hùng, Thục, Âu đi đâu hoặc có nhưng sao ít vậy?
Điều đó và theo các tài liệu đã đọc được thì trước Công nguyên người Việt cổ (người Kinh, người Mường ngày nay) sống ở vùng núi trung du Bắc bộ, cũng như nhiều dân tộc khác, không có họ. Các tộc danh mà nay sử Việt nói đến là dùng để chỉ cả một bộ tộc, không nhất thiết có quan hệ huyết thống gốc và người đứng đầu bộ lạc với danh xưng Hùng Vương 雄王, đâu phải họ Hùng mà là do các Nho gia sau gắn là Hồng Bàng Thị 鴻龐氏! Các Anh hùng dân tộc như Bà Trưng (徵側 và 徵貳) cùng các Nữ tướng của bà (ví như: Lê Chân, Lê Thị Lan, Lê Thị Hoa, Đàm Ngọc Nga, Quách A, Trần Nang…), hay Danh thần ngày nay như Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn 阮俊 mà người Việt đang thờ đủ cả họ, tên cũng do các nhà Nho sau này thêm họ vào!
Họ của người Việt ngày nay có thể bắt nguồn từ trong thời Bắc thuộc (北屬時代, 207 TCN-939) do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Cụ thể là khi Sĩ Nhiếp (士攝,187-226) do nhà Đông Hán (東漢, 25-220) phái sanglàm Thái thú 太狩 cai trị nước ta khi đó gọi là Giao Chỉ Bộ 交趾步. Ông này đã mang rất nhiều ảnh hưởng Khổng giáo (do Khổng Tử Khâu 孔子邱 sáng lập 551 tCn), đưa chữ Hán, khuôn phép vào thực hiện ở nước ta và cải Giao Chỉ 交趾thành Giao Châu (交州, 203). Để tiện cho việc quản lý, cai trị (theo dõi hộ khẩu, nhân khẩu, quân dịch, thu thuế), ông ta sử dụng những họ đã có sẵn ở Trung Quốc đặt cho người Việt. Bên cạnh đó, do chính sách “dĩ Man chế Man” 以蠻制蠻 của các Thái thú nên có một lớp người Việt học chữ Hán, làm việc với quan nhà Hán (lang đạo, thổ ty, tù trưởng, chức dịch…) đã nhiễm và bắt chước văn hoá Hoa Hạ. Khi đó những người này đã lấy họ có sẵn bên Bắc quốc đặt cho dòng họ mình theo ý của người chung một ông tổ hay ý chỉ vẽ của người học cao để gọi họ của mình. Từ đó, các dòng họ tồn tại đến nay nhưng ngày đó nước ta chưa có “quốc ngữ”, chưa tiếp xúc với văn hoá phương Tây, lúc đầu tiếp xúc với văn hoá Hoa Hạ cùng xhưa có chữ Nôm nên chữ chỉ tên họ được ghi bằng chữ Hán và đều giống chữ ghi họ tương ứng của người Tầu. Song đó phải là chữ dạng Phồn thể 繁體 và người Việt đọc theo âm Hán Việt từ thời nhà Đường (唐朝, 618–907) trở về trước. Song điều đó không có nghĩa người Việt đều từ “Bách Việt” của Trung Quốc, mà là người bản địa ở miền núi trung du Bắc bộ, Thanh Nghệ, ven biển miền Trung.
Nói gì thì nói muốn tìm hiểu về việc hình thành “họ” và “chữ chỉ tên họ” thì với Việt Nam cách hữu hiệu nhất vẫn là nghiên cứu về việc này bên Trung Quốc và xem ảnh hưởng của nó tới người Việt (Kinh) thế nào.

Ngày Giỗ Tổ: 肇祖忌日

Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tínngưỡng: Đạo ông bà.Nhưng đó không phải là tôn giáo vì không có giáo lý, không phụ thuộc vào quan điểm chính trị…”. Đã nói tới tín ngưỡng dĩ nhiên có vấn đề tin và không tin.” Đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên là sự hiển nhiên, không có nghi vấn tin hay không tin. Người phương Tây coi trọng ngày sinh thì người Việt coi trọng ngày mất vì họ cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối. Sự thờ cúng chính là sự gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ linh thiêng. Đối với người Việt Nam, chết không có nghĩa là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn còn lui tới với gia đình. Thể xác thì tiêu tan, nhưng linh hồn thì bất diệt. Giỗ là một buổi lễ, nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt
Việc thờ cúng Tổ tiên vốn có từ lâu trong người Việt. Đó không phải là một tôn giáo bởi không có giáo chủ, giáo điều và người truyền giáo. Thực chất đó là việc con cháu tỏ lòng biết ơn và thành kính với người đã khuất. Hơn nữa, “trần sao, âm vậy” và “sinh ký, tử quy” nên Tổ tiên luôn ngự trị nơi bàn thờ, dõi theo con cháu hằng ngày, giúp dập phù hộ khi cần thiết. Trong thời hiện đại, nếp nghĩ ấy cũng không phai mờ:

Thà đui mà giữ đạo nhà,
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”.
(Nguyễn Đình Chiểu)

Theo truyền thống ngày mất của tổ tiên đều được nhớ là ngày tháng năm Âm lịch, nhưng năm âm lịch cứ 60 năm thì lại trùng nhau, vì vậy sau này con cháu thường không nhớ năm. Thông thường người con trưởng hoặc cháu Đích tôn sẽ được thừa hưởng phần lớn gia tài của người đã khuất, và được ở nhà Từ đường, đồng thời nhận trách nhiệm chính phụng kỵ. Mỗi người đã có cha, có mẹ; rồi 2 cha mẹ cũng lại đều có cha mẹ như vậy vị chi đã là 4. Rồi 4 ông bà cũng có cha mẹ, thành 8 và 8 cụ lại có cha mẹ, thành 16. Cứ thế mà tính lên cho đến đời thứ 10, thì chúng ta đã có 1024 tổ tiên. Nếu tính lên cho đến đời thứ 20, mỗi người sẽ có 1.048.576 tổ tiên ! Thật là một con số lớn.Theo thời gian, cháu Đích tôn trong những đại tộc nhận cúng kỵ Ông Bà rất nhiều đời, đôi khi không kham nổi về tài chính, vả lại quanh năm suốt tháng con cháu lo đi ăn giỗ thì còn đâu thì giờ để làm ăn, vì vậy phần nhiều dòng họ chọn một ngày phù hợp để hội họp con cháu, cúng kỵ Ông Bà 5,6 đời về trước (Ngũ đại mai thần chủ), ngày này được gọi là ngày Hiệp Kỵ và thường là ngày giỗ cụ Tổ khai sáng hay có công lớn với dòng họ.
Nhiều gia đình họp thành một ngành, nhiều ngành họp thành một họ. Mỗi họ có một ông tổ chung. Ngày giỗ ông tổ gọi là ngày giỗ họ hoặc giỗ tổ. Mỗi họ đều có một nhà thờ tổ, giỗ tổ cúng tại nhà thờ này.
Người trưởng tộc lo việc làm giỗ, nhưng tất cả các ngành trong họ đều phải đóng góp. Người trưởng tộc được hưởng của hương hoả của tổ tiên để lại. Theo tập quán, của hương hoả không được bán, mà phải để gây hoa lợi dùng trong việc tế tự và cúng giỗ. Tiền cúng giỗ nếu còn thừa sẽ được dùng sắm sửa tự khí hay trang hoàng nhà thờ.
Ngày giỗ họ, trưởng các ngành chi họ đều có mặt, trừ trường hợp bất đắc dĩ. Nhiều họ lớn, trong ngày giỗ họ, con cháu có mời phường bát âm tới tế lễ.
Về số tiền chung để góp giỗ thường tính theo đầu người, nhưng chỉ đàn ông trên 18 tuổi mới phải nộp, đàn bà con trẻ được miễn. Có nhiều họ, con gái không được dự giỗ họ, vì con gái khi lấy chồng sẽ thuộc họ khác, con dâu mới được tới dự giỗ. Ngày giỗ họ, không mời khách khứa, chỉ có con cháu trong họ cúng lễ và ăn uống với nhau. Tuy không mời khách nhưng vì con cháu đông, nên ngày giỗ họ bao giờ cũng linh đình, đông đúc.
Trong ngày giỗ họ, sau những nghi lễ và sau bữa ăn, các trưởng chi thường cùng nhau họp bàn công việc họ. Ngày giỗ họ là dịp duy nhất trong năm để cả họ họp mặt. Trong dịp này, các vị có tuổi thường kể cho con cháu nghe những công trạng, sự nghiệp của ông Tổ để con cháu được tri ân.
Thế kỉ XV, trong Quốc triều hình luật 國朝刑律nhà Lê đã thể chế hóa việc này bằng Điều 399 quy định: “con cháu phải thờ cúng Tổ tiên 5 đời” và Điều 400 quy định về ruộng hương hỏa, ruộng đèn nhang. Thời phong kiến việc thờ cúng rất được nhà nước coi trọng, triều đình nghiêm cấm việc bán ruộng hương hỏa. Họ nào con cháu phiêu cư bạt tán hết thì ruộng đó có thể bán, nhưng là bán tạm, con cháu có thể chuộc lại khi có điều kiện. Tuyệt đối cấm bán đoạn. Gần 4 thập niên (1945-1984) dưới chính thể mới, do toàn dân phải dốc lực cho 2 cuộc kháng chiến cứu nước, từng người phải lo cái ăn, cái mặc; những gì tốt đẹp nhất, những người tiên tiến nhất phải giành cho cuộc chiến nên nhiều giá trị chuẩn mực đạo đức bị sao nhãng, méo mó. Toàn quốc cũng như từng làng, từng họ, mỗi gia đình đã hiểu sai lạc nên gây những xáo trộn không cần thiết về chữ Hiếu, về Từ đường, việc thờ cúng Tổ tiên, trách nhiệm gia đình, dòng họ. Từ sau 1986 tình hình đã có nhiều đổi khác. Những giá trị, tập quán tốt đẹp, chân chính đã được phục hồi, phát huy.
                                                                 (Sưu tầm từ Blog Họ Lương – Lào Cai)

 


Trang 1/Tổng số 11

Bài viết cùng chuyên mục :

Xem thêm

Ngày 23 tháng Chạp và Sự tích Tết ông Công, ông Táo

Hàng năm, năm hết Tết đến, vào ngày 23 tháng Chạp (Âm lịch), các gia …