Trang chủ / Tư liệu / Những điều nên biết / Những điều cần biết về tang lễ

Những điều cần biết về tang lễ

Dieu_can_biet_ve_tang_le    (Sưu tầm)

 Phận làm con, ai cũng muốn làm tròn đạo Hiếu. Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ với con cái cao ngất như trời xanh, rộng mênh mông như biển cả. Cả đời này, con cái không sao báo đáp trọn vẹn được. Một trong những việc báo hiếu đối với cha mẹ là tổ chức tang lễ cha mẹ sao cho trọn vẹn.

Làm tốt việc Tang Lễ cho Cha Mẹ, là việc làm cho chính mình, cũng là nêu gương cho con cháu noi theo.

Những điều cần biết về Tang Lễ là tập sách mỏng, viết dưới dạng Cẩm nang Gia đình. Khi lâm sự, xem các việc chính cần làm, thực hiện theo một trình tự đã có. Từ khi qua đời đến lúc an táng có 13 việc chính, từ an táng đến cải táng có 6 việc chính. Đây là những việc không thể bỏ được.

Căn cứ vào Thọ Mai Gia Lễ và qua thực tế việc Tang lễ hiện nay. Chúng tôi chọn lựa những nội dung cần thiết, lược bỏ những điều phiền phức không phù hợp với thời đại mới. Làm vậy Tang lễ vừa đảm bảo tính dân tộc, lại có nội dung Văn hóa mới.

Chúng tôi chọn nêu lại một số nội dung cũ của Thọ Mai Gia Lễ, độc giả tham khảo để hiểu rõ hơn sự phức tạp của các việc làm ngày trước. Bây giờ bỏ đi là hợp lý.

Chương I: NÓI VỀ CÁI CHẾT

1- SINH LÃO BỆNH TỬ, LÀ QUY LUẬT TỰ NHIÊN TRONG VÒNG ĐỜI NGƯỜI.

Người ta, ai cũng muốn được sống lâu trên cõi đời này. Chẳng thế mà khi mừng thọ các cụ lên lão, ta thường dành những câu tốt đẹp: “Thọ tỷ nam sơn –tho_ty_nam_son– thọ như núi Nam”. Nếu tuổi thọ không cao được như núi Nam, thì ít ra cũng phải “Bách tuế trường sinh –bach_tue_truong_sinh– sống lâu trăm tuổi”. Ấy là chưa kể các đấng bề trên, vẫn được mọi người tung hô: “muôn năm! vạn tuế!”. Đó cũng chỉ là những thành ngữ mang tính ước lệ. Mặc dù hiện tại đã có một số người sống 100 tuổi, hoặc trên 100 tuổi. Nhưng điều đó không phải là phổ biến.

Chuyện Ông Bành tổ sống 800 tuổi, chuyện các vị Thánh Thần trường sinh bất lão; chỉ là sự gửi gắm ước muốn của con người, khi mà thực tế cuộc sống không đạt được. Chẳng thế mà cả châu Âu, châu Á đều có câu chuyện “Rắn gìa rắn lột”. Chuyện rằng:

Thuở trời đất vừa được dựng nên, Trời muốn cho loài người đuợc bất tử bằng cách lột xác, còn loài rắn tới già thì phải chết. Trời mới sai Thiên lôi xuống trần, và dặn rằng khi gặp người, phải nói câu thần chú sau:

– Người già người lột. Rắn già rắn tọt vào săng.

Thiên lôi xuống trần, vừa đi vừa nhẩm thần chú của Trời; nhưng vì lơ đãng, đọc đi đọc lại thế nào, khi xuống trần vừa gặp con người, thiên lôi lại đọc: “Rắn già rắn lột. Người già người tọt vào săng”.

Vì thế mà con rắn được lột xác, còn con người sinh ra, lớn lên, già, chết, rồi phải cho vào săng, đem chôn!.

Đến như Tần Thủy Hoàng, vì muốn có thuốc trường sinh nên vẫn bị lừa. Ông đã cấp lương thảo, tiền bạc, thuyền bè cho bọn lang băm, vượt trùng dương đi tìm thuốc trường sinh. Thuốc chẳng thấy đâu, chính ông lại bị chết trên đường tuần du, đến nỗi xác phải ướp muối chở về kinh.

Ngày nay nhờ sự tiến bộ của khoa học, tuổi thọ trung bình của con người ngày một nâng cao. Trước cách mạng tháng tám, tuổi thọ trung bình của ta chỉ trên dưới bốn mươi. Năm 2011, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, người trên 65 tuổi đạt 7% dân số. Tốc độ già hóa dân số của Việt Nam, nhanh hàng đầu Châu Á và là một trong năm quốc gia, có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Đến năm 2049 người cao tuổi Việt Nam sẽ là 25%. Theo kết quả Điều tra dân số năm 2014: Tuổi thọ trung bình của dân số nước ta là 73,2 tuổi, trong đó nam là 70,6 tuổi và nữ là 76,0 tuổi.

Ý muốn trường sinh là chuyện của con người, nhưng quy luật tự nhiên là sự tồn tại khách quan. Vòng đời người tuân theo quy luật: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Đây là điều thuận lý tất yếu không thể tránh, cái gì đến tất phải đến. Bình thường ai rồi cũng phải chết, trừ những cái chết bất đắc kỳ tử như tai nạn rủi ro, thiên tai, trận mạc, bệnh hiểm nghèo…con người không tiên liệu được; hoặc những cái chết tự tử vì thất vọng, bị dồn vào ngõ cụt không có lối ra.

Vẫn biết Ông bà Cha mẹ “ra đi” lúc tuổi già là đương nhiên, nhưng khi nó đến vẫn cứ bất ngờ hụt hẫng. Là nỗi đau khôn cùng, sự mất mát lớn lao, nỗi trống vắng không sao khỏa lấp.

Làm chu đáo tang lễ cho ông bà cha mẹ, trước hết là thể hiện lòng báo hiếu của con cháu; cho nên đám tang, còn gọi là “Đám Hiếu”. Làm tang lễ là việc làm của mình, cho chính mình. Người đã mất đâu còn biết gì, trong khi người sống chịu bao áp lực và dư luận chi phối. Nếu con cháu chúng ta, không có sự chuẩn bị chu toàn và thực hiện đầy đủ các bước trong lễ tang, sẽ có nhiều thiếu sót lớn không sao sửa chữa được. Đến nỗi nhiều người phải ân hận suốt đời, có khi còn mang tiếng là bất hiếu!

2- NGƯỜI GIÀ CẦN CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT.

Thông thường người cao tuổi hay nghĩ đến cái chết. Sẵn sàng đón đợi cái chết. Bằng chứng là ở nông thôn, một số nơi còn chuẩn bị sẵn áo quan (quan tài) trong nhà khi các cụ còn khỏe mạnh. Áo quan đó còn gọi là cỗ hậu (dùng nó về sau), có nơi còn gọi là cỗ thọ, vì vậy đầu áo quan bao giờ cũng khắc chữ “Thọ –tho”, cũng là để đánh dấu khi nhập quan.

Cái chết dưới cách nhìn chấp nhận một quy luật, thì không có gì đáng sợ. Người theo một tôn giáo, càng nhẹ nhàng khi đối diện với cái chết. Thiên chúa giáo coi cái chết là về với Chúa, với sự vĩnh hằng. Ta sinh ra từ cát bụi, lại trở về cát bụi. Phật giáo coi cuộc đời là bể khổ trầm luân, “sinh ký tử quy –sinh_ky_tu_quy– sống gửi thác về”. Cuộc sống đời người chỉ là tạm bợ, khi chết mới thực sự được về nơi cực lạc viên mãn, siêu sinh tịnh độ.

Người cao tuổi khi về già thường ốm đau luôn, nhiều người cảm nhận cái chết đến gần. Cá biệt có người còn “bấm” được mình sẽ chết vào một thời gian cụ thể. Bởi vậy cần thanh thản chuẩn bị cho cái chết bằng một số việc làm sau:

a) – Lập di chúc.

Thường ta chưa có thói quen lập di chúc, ngày nay việc lập di chúc tương đối phổ biến. Đây là một nét Văn hóa đẹp và cần thiết. Việc lập di chúc là thể hiện ý nguyện định đoạt về tài sản, hoặc tâm nguyện của một người trước khi chết.

Theo Bộ luật Dân sự, phần thừa kế, một bản di chúc hợp pháp là:

Về hình thức: Được soạn thảo thành văn bản, có người làm chứng hoặc được UBND xã, phường, cơ quan công chứng xác nhận. Nếu di chúc không có chứng thực, người lập di chúc phải tự tay viết di chúc, theo nội dung quy định và ký tên. Nếu là di chúc miệng, phải có hai người làm chứng. Hai người này ghi chép lời nội dung di chúc và phải ký tên.

Về nội dung: Phải ghi rõ tên, tuổi, địa chỉ người lập di chúc; cá nhân, tổ chức được hưởng di sản; thực trạng tinh thần và sức khỏe của người lập di chúc; tài sản để lại (phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại di chúc); quyền và nghĩa vụ của tổ chức và người nhận di sản, ngày tháng lập di chúc…

Bản di chúc nói chung, ngoài việc thể hiện tính hợp pháp, thường còn chứa đựng tâm tư, tình cảm của người để lại di sản. Nên bên cạnh việc định đoạt tài sản, người lập di chúc còn nhắc nhở, căn dặn một số điều cho người hưởng di sản. Trong di chúc có những điều dặn dò con cháu thực hiện di ngôn của mình.

Khi sắp qua đời mới công bố di chúc. Trường hợp không có di chúc, con cháu phải hỏi cho rõ ý muốn của người lâm chung. Người thân ghi chép đầy đủ dưới sự chứng giám của các thành viên trong nhà hoặc người làm chứng, được ký tên hoặc điểm chỉ chu đáo.

Có thể mời luật sư lập di chúc và ủy quyền cho luật sư công bố di chúc, vào một thời điểm được ghi trong di chúc.

(Tham khảo thêm Bộ luật dân sự về lập di chúc)

b) – Giải quyết những việc tồn đọng.

Đây là một việc nhạy cảm và tế nhị. Ai biết được cụ thể cái chết của mình, mà đòi giải quyết! Nhưng người già khi ốm đau, lượng thấy mình không qua khỏi, cần thanh toán nợ nần hoặc cho con cháu biết mình còn nợ nần gì. Trả vay, vay trả cần dứt điểm, kể cả những món nợ tinh thần, những uẩn khúc lâu nay chưa giải tỏa.

Lẽ thường ai cũng sợ chết. Bởi chết là mất tất cả mọi thứ ta có, từ thân xác ta, cho đến những người thân yêu của ta. Mất hết những gì ta phấn đấu, lao tâm khổ tứ cả một đời mới có, khi chết không sao mang theo được.

Cái quý hơn cả là thân xác ta, rồi cũng mất đi. Điều làm cho ta sợ hơn nữa là: Ta không biết điều gì sẽ xẩy ra sau khi chết. Thiên đường hay địa ngục? Nỗi ám ảnh cứ theo ta, và chỉ có ta mới biết phải tự sám hối về những điều tốt xấu, mà ta đã làm khi sống trên cõi đời này…Liệu ta có được siêu thoát hay bị trừng phạt?…

Bây giờ tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã vượt qua mốc “xưa nay hiếm”, các cụ đều trải nghiệm nhiều, đã tri thiên mệnh (tri_thien_menhbiết mệnh trời), hiểu biết quy luật cuộc đời, qua các cung bậc thăng trầm và nếm trải bao cay đắng ngọt bùi. Nhận ra mọi sự bon chen, tranh quyền đoạt lợi, mánh mung mưu mẹo, chỉ hao tâm tổn trí. Chức trọng quyền cao bổng lộc nhiều, tiền muôn bạc tỷ lắm; cũng chỉ là của phù vân, sáng đến chiều đi không mang theo được.

Phải sống làm sao, khi cái quan luận định ( cai_quan_luan_dinhđậy nắm quan tài mới khen chê hay dở) được nhiều người thương nhớ và cắm trên bia mộ mình một lời tốt đẹp: “Ở đây yên nghỉ một con người lương thiện!”. Đó mới là sự tiếp nối vẻ vang truyền thống của dòng họ, của Tổ tiên ông bà. Và cũng là gương sáng treo cao cho con cháu noi theo.

Hiện tại các cụ lấy sự sống vui, sống khỏe, sống có ích làm phương châm xử thế. Chẳng thế mà các cụ cao niên rất tâm đắc với phương châm: “Sống khỏe, chết nhanh, ít của để dành, khi chết được nhiều người thương nhớ“. Mọi oán thù đều gạt bỏ và quên đi. Người làm chủ bản thân, còn biết quên tuổi tác, hòa nhập với cuộc sống cộng đồng, gần gũi tuổi trẻ. Nụ cười và ánh mắt trẻ thơ sẽ tiếp thêm nhựa sống lạc quan yêu đời cho tuổi già, khi mãn chiều bóng xế! Biết quên bệnh tật, chấp nhận để chung sống và tìm cách hạn chế không cho bệnh tật phát triển. Đó mới là liều thuốc Trường sinh Bất lão hiệu nghiệm!

Làm được vậy, sẽ là niềm Hạnh phúc an nhiên, thanh tao, tự tại… Vui vầy bên con cháu, thả hồn vào cảnh sắc thiên nhiên. Điều kiện kinh tế ngày một nâng cao, các cụ đều có thể:

“Khi chén rượu, khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”

Truyện Kiều – Nguyễn Du

Như vậy, khi đi vào cái chết được nhẹ nhàng. Con cháu cần hỏi thêm các cụ trước khi lâm chung và hứa có trách nhiệm giải quyết, để cho các cụ ra đi được thanh thản. Ngày trước người ta còn hỏi ý người sắp chết việc đặt tên thụy, tên hèm là gì; để sau này khi cúng đọc cho đúng, hồn người chết về thụ hưởng, nên mới gọi là tên cúng cơm. Bây giờ điều này không mấy ai làm. Hiện nay khấn cúng đều đọc tên khai sinh của người chết.

c) – Đáp ứng nguyện vọng người sắp “ra đi”.

Những người sắp “ra đi” thường có những yêu cầu nào đó. Thèm ăn một món quà quê để nhớ lại những ngày tuổi ấu thơ (mặc dù món ăn đó cần phải kiêng), thèm nhìn một khoảng trời xanh qua khung cửa sổ (có thể gió lạnh lùa vào!)…muốn được gặp người này người kia… Kể cả “người tình cũ một thời”… Nhất là khi sắp tắt hơi, một số người đòi hạ thổ, xuống đất lấy âm khí cân bằng âm dương rồi mới chết.

Những người ở quê ra tỉnh, biết mình sắp chết, đòi được “đưa” về quê nằm cạnh tổ tiên ông bà, kể cả những người xa xứ cũng muốn được “lá rụng về cội”…

Con cháu cũng không nên câu nệ, cần khắc phục khó khăn để đáp ứng những nguyện vọng này trọn vẹn và chu đáo, trong điều kiện có thể.

3- THẾ NÀO LÀ CHẾT?

Chết thông thường được xem là chấm dứt sự sống của một con người. Định nghĩa cho sự chết, còn tùy thuộc vào ba quan điểm: y học, tôn giáo, và pháp luật. Chúng ta không cần thiết đi sâu vào lĩnh vực này. Thông thường cần có sự xác nhận của y học.

Trong y học, có nhiều định nghĩa khác nhau về cái chết. Ở phương Tây trước đây, sự chết đã được gắn với tim và sau đó là phổi. Khi tim và phổi của một người ngừng hoạt động, người đó được xem là đã chết. Về sau, não được đưa vào định nghĩa. Năm 1963, điện não đồ (EEG) được phát minh, phương tiện này có khả năng đo rất chính xác các dòng điện phát ra từ não. Nếu máy điện não đồ ghi nhận một dòng điện bằng không (nói cách khác là một EEG phẳng) trong 36 giờ, người đó được xem là đã chết.

Trong đời thường, xưa nay vẫn cho rằng khi “tắt thở” là chết. Thông thường người ta để những sợi tơ bông vào mũi xem còn thở không. Thực ra có trường hợp não vẫn còn sống, nên mới có hiện tượng người chết còn bật dậy, khi có con mèo chạy ngang. Ta gọi hiện tượng này là quỷ nhập tràng. Chính thế khi có người chết phải nhốt mèo, nhốt chó lại.

Cái chết thường được gắn liền với một số biểu tượng. Ở nhiều nước phương Đông, màu trắng là màu của tang chế; ngược lại, ở phương Tây, màu tang là màu đen. Biểu tượng của cái chết là vị thần chết với bộ xương gớm ghiếc và chiếc lưỡi hái kinh hãi.
Tập tục của hầu hết các nền văn hóa là khóc thương những người thân yêu đã chết và để tang tưởng nhớ.

4 – SAU KHI CHẾT SẼ RA SAO?

Điều gì sẽ xảy ra đối với con người, trong và sau khi chết? linh hồn có hay không? Câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng.

Những người theo chủ nghĩa vô thần, hoặc thuyết bất khả tri thì tin rằng cái chết đặt dấu chấm hết cho ý thức.

Trái lại niềm tin vào một cái gì đó tiếp tục sau khi chết cũng phổ biến từ xưa, mọi tôn giáo cho rằng có một thế giới của người chết (âm ty, âm phủ, cõi âm), hoặc tái sinh, đầu thai vào kiếp sau. Đó là sự an ủi có liên hệ tới cái chết của những người thân yêu và viễn cảnh về cái chết của chính bản thân mỗi người đang sống.

Nỗi lo sợ về địa ngục, trải qua “thập đại diêm vương!”, cũng như những hệ quả đen tối khác, khiến cho cái chết trở nên quái ác hơn. Nỗi ưu tư của con người về cái chết ở nơi địa ngục hay chốn Thiên đường, cũng là một động lực quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của các tôn giáo.

Hiện nay niềm tin vào một Thế giới TÂM LINH không phải là ít. Điều đó đặt ra cho khoa học cần tìm một lời giải đáp. Trước một thực tế, ngày càng có nhiều nhà ngoại cảm nhìn được thế giới bên kia, nói chuyện được với người âm. Qua kiểm chứng có đúng có sai. Đây là vấn đề nhạy cảm, chúng ta cần tỉnh táo! Bởi lẽ trong cơ chế thị trường, dưới sức hút ma lực của đồng tiền, đã xuất hiện một số nhà ngoại cảm dởm lừa lọc, vô lương tâm!
Phải bình tâm sáng suốt, tránh được sự mù quáng mê muội không đáng có!

5 – XỬ LÝ XÁC NGƯỜI CHẾT.

Người chết được thực hiện một số nghi thức tống táng, thông thường nhất là chôn trong mộ (một hố đào vào lòng đất gọi là huyệt mộ). Ngoài ra còn táng trong quan ngoài quách, hầm mộ, mộ đá. Mộ rất đa dạng, từ đơn giản như một gò, ụ đất đến vô số các kiến trúc lăng tẩm khác trên mặt đất.

Ở Tây Tạng, có một phương pháp gọi là lộ thiên táng hoặc điểu táng, đem xác người chết, đặt trên núi cao làm mồi cho các loài chim ăn thịt, họ cho rằng chim ăn, sẽ chuyên chở linh hồn về chốn thiên đường.

Ở một số nước, người ta lại cố gắng làm chậm quá trình phân hủy của xác trước tang lễ. Thậm chí có thể làm chậm quá trình phân hủy sau khi chôn cất, như ướp xác hoặc tạo các mô mi.

Nhiều nền văn hóa khác nhau, có nhiều tập quán mai táng khác nhau. Trong một số các làng chài hoặc lực lượng hải quân, người ta còn thủy táng (đưa xác chết xuống sông hoặc biển). Một số vùng miền núi, người ta treo quan tài lên cây, hoặc trong hang động như ở hang Lũng Mu – Hồi Xuân – Thanh hóa trước đây.

Một cách mai táng mới là “mai táng sinh thái”. Làm đông xác ở nhiệt độ rất thấp, sau đó tán thành bột, rồi làm khô ở nhiệt độ lạnh.

Ngày nay việc mai táng bằng phương pháp hỏa táng, được nhiều người chấp nhận. Đây là phương pháp tốt nhất, giải quyết về vệ sinh môi trường và đất nghĩa địa. Rồi đến lúc mỗi tỉnh cần có một lò hỏa táng.

Gần đây còn có ý tưởng “vũ trụ táng”: dùng tên lửa đưa một phần tro cốt vào không gian.

Nhiều người đã hiến toàn bộ, hoặc một phần xác cho khoa học (nổi tiếng nhất là Einstein). Có thể hiến các bộ phận như thận, giác mạc…để cấy ghép, thay thế cứu sống bệnh nhân. Nhiều nhất là hiến xác cho các trường y, để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy môn giải phẫu.

Việc mai táng được thực hiện bởi dân làng, các công ty mai táng chuyên nghiệp, hoặc có sự tham gia của bệnh viện, tổ chức tôn giáo, hội từ thiện v.v.

Mồ mả thường được tập hợp trong một khu đất gọi là nghĩa trang (nghĩa địa).

6 – NGƯỜI VIỆT NAM NHÌN NHẬN VỀ CÁI CHẾT.

Đạo lý truyền thống của người Việt quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận”. Bao nhiêu hờn oán đều xóa bỏ khi người ta đã chết, vì chết là dứt nợ trần gian. Chính vậy người cao tuổi hiện nay rất tâm đắc với phương châm sống: Quên hận thù!

Quan niệm của nhà Phật là “sinh ký tử quy sinh_ky_tu_quy sống gửi, thác về”, xem cuộc sống trên dương thế chỉ là cõi trọ tạm bợ, chết không phải là hết; chết là về để khởi đầu cho một cuộc sống mới, ở thế giới mới.

Tín ngưỡng dân gian tin vào linh hồn, khi chết linh hồn thoát khỏi xác. Người tu nhân tích đức tốt, linh hồn được siêu sinh tịnh độ về miền cực lạc. Người còn nặng nợ trần gian, linh hồn sống ở cõi âm. Cả hai loại cũng sinh hoạt như ở dương thế. Do đó có tục lệ đốt vàng mã, nhà cửa, xe cộ, đầy tớ, áo quần, tiền, đô la âm phủ v.v. để chu cấp cho người chết được đầy đủ, vì trần sao âm vậy! Rằm tháng bảy âm lịch, trùng với lễ Vu lan của Phật giáo, là ngày xóa tội vong nhân, người ta cúng cô hồn để bố thí thức ăn cho những vong hồn lạc loài không chỗ trú.

Một quan niệm cổ truyền nữa là người chết cần được “mồ yên mả đẹp”, việc “động mồ động mả” có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của con cháu. Ai cũng muốn tìm đất tốt táng cho cha mẹ, để con cháu được phát lộc! Vẫn còn đó những câu chuyện được Thầy địa lý Tả Ao tìm đất tốt, táng mộ cụ Tổ nên con cháu phát lộc, được làm quan to!

Tùy địa vị xã hội và nhân cách của từng người và từng cái chết cụ thể; nhân dân ta thể hiện thái độ, tình cảm đối với cái chết thông qua ngôn từ khá thú vị:

Tỏ lòng Kính trọng dùng các từ: từ trần, khuất núi, qua đời, mất, ra đi, yên nghỉ, hi sinh, ngã xuống, nằm xuống, từ giã, đền nợ nước trả thù nhà, trút hơi thở cuối cùng. Nói về vua chúa: băng hà.

Để Kiêng kị dùng các từ: vĩnh biệt, trăm tuổi già, ngủ, đi (ra đi), lìa đời, sang bên kia thế giới, tim đã ngừng đập…

Người theo Tôn giáo dùng các từ: lâm chung, về với Chúa, viên tịch, quy tiên, hồn lìa khỏi xác, hóa kiếp, mãn phần, về miền cực lạc, trở về cát bụi…

Biểu hiện Trung lập dùng các từ: chết, thác, đi bán muối, qua đời, tuyệt mệnh (mạng), tử, mất…

Nói về Thân phận dùng các từ: lìa đời, im hơi lặng tiếng, nhắm mắt xuôi tay, về với đất, chầu ông bà ông vải, chầu trời, chầu tổ tiên, chầu Diêm vương, mất mạng…

Thái độ Khinh miệt dùng các từ: toi mạng, rồi đời, xong đời, đền tội, ngoẻo, ngủm, ngủm củ tỏi, tiêu, nát gáo, ăn đất, ăn giun, đi đứt…

Chương II: NHỮNG VIỆC TRONG TANG LỄ

Trong Tang lễ, quan trọng nhất là Tang lễ Cha Mẹ. Nhân dân ta luôn quan niệm: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn – Việc chết như việc sống, việc mất như việc còn”. Bởi vậy dù khó khăn đến đâu, khi lâm sự ai cũng cố gắng hết mức, để lo việc hậu sự cho Cha Mẹ được chu đáo vẹn toàn. Thể hiện tấm lòng báo hiếu được trọn vẹn của con cháu.

Người bình tĩnh đến đâu, cũng rối trí khi trong nhà có người thân qua đời. Chính vậy mới có câu: “Tang gia bối rối”. Người chủ gia đình lúc này cần phải làm chủ bản thân, nén đau thương để quán xuyến mọi việc. Trong gia tộc hoặc trong họ, cần cử ra một người cùng giúp, quán xuyến và xếp đặt mọi việc; có sự phối hợp giúp đỡ của cộng đồng dân cư, các hội, các đoàn thể và đơn vị cơ quan…

Dù đau thương đến đâu, con cháu cũng phải nén lòng chưa được vật vã khóc than. Xưa nay vẫn kiêng, không để con cháu rớt nước mắt trên thi hài người đã khuất. Con cháu chỉ khóc từ sau lễ phát tang.
Khi đã tuyệt khí, vuốt mắt người chết rồi đưa thi hài xuống đất, gọi là hạ thổ. Việc tiếp đất này là hấp lấy sinh khí đất, xem có hồi dương – (sống lại) không. Sau đó đưa lên giường, lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, để sau làm lễ phạm hàm được dễ; nếu không, sau phải lấy cái lược cậy hàm răng mới làm phạm hàm được. Lấy bông nút kín các lỗ tai, mũi và hậu môn. Buộc hai ngón tay cái và hai ngón chân cái lại. Hai tay đặt lên bụng. Đưa thi hài vào giường phủ khăn mỏng hoặc tờ giấy bản lên mặt, rồi buông màn như người đang ngủ. Chuẩn bị nấu nước ngũ vị hương để lau tắm và thay quần áo.

Đầu giường thắp nhang, chờ được giờ tốt mới nhập liệm.

I – NHỮNG VIỆC TRƯỚC KHI PHÁT TANG

Trước khi làm Lễ phát tang có nhiều việc được tiến hành đồng thời, không phân biệt trước sau. Đại thể phải làm 7 việc chính sau đây:

   1) BÁO TANG.

Điện báo cho con cháu nội ngoại xa gần biết, thu xếp về chịu tang. Đồng thời báo cho chính quyền, tổ chức xã hội, đoàn thể, cơ quan đơn vị để có sự phối hợp lo việc hậu sự chu đáo. Liên hệ ban quản trang ký hợp đồng việc mai táng. Ở nông thôn chưa có ban quản trang, trong nội tộc thu xếp người lo việc đào huyệt. Cử người mua quan tài, vải liệm, làm ảnh, thuê tăng âm loa đài và các thứ cần thiết… mời thầy cúng và hội kèn trống, lên lịch thời gian phát tang, phúng viếng, truy điệu và mai táng…

Cần kiểm tra kỹ việc mời thầy cúng, không để xẩy ra mời hai thầy cúng một lúc, rất khó xử. Việc tham gia ý kiến của người khác, cần khéo léo và tế nhị; không làm tang chủ rối trí trong lúc đang đau buồn, tránh sự căng thẳng không cần thiết, dễ xẩy ra tình trạng “lắm thầy rầy ma”.

   2) THÀNH LẬP BAN LỄ TANG.

Thành lập Ban Lễ tang và cử người làm Trưởng ban. Thường một công dân mất, do trưởng xóm, trưởng làng, hoặc trưởng khu phố làm Trưởng ban lễ tang. Các thành phần gồm có: đại diện Mặt trận, đại diện tổ chức xã hội, đại diện đoàn thể, đại diện cơ quan, đơn vị và đại diện gia đình.

Phải căn cứ vào địa vị xã hội của người đã mất mà cử Trưởng, Phó Ban lễ tang cho phù hợp.

Trong Ban Lễ tang cần có sự phân công cụ thể các việc làm cho từng thành viên, giúp gia chủ khi tang gia bối rối. Nghĩa tử là nghĩa tận!

Sau khi thành lập Ban lễ tang, ra Thông báo, Cáo phó hoặc Tin buồn cho mọi người biết. Thông thường là viết TIN BUỒN trên một tờ giấy rộng, chữ chân phương rõ ràng.

Tham khảo một trường hợp cụ thể như sau:

tinbuon

dsbantangle

Hai bản này khuôn khổ to bằng nhau, thể hiện sự trang trọng và nghiêm cẩn của một đám tang.

Tin buồn và Danh sách Ban Lễ tang, treo ở chỗ mọi người dễ nhìn thấy nhất. Từ cổng nhà ra tới đường lớn, cắm cờ tang, nhằm thông báo cho người đến phúng viếng biết.

3) LẬP BÀN THỜ VONG VÀ TRANG TRÍ PHÒNG TANG.

* Bàn thờ vong gồm có:

– Ảnh người quá cố, bài vị, minh tinh, bát hương, lọ hoa, mâm hoa quả, đĩa xôi con gà. Nếu có huân huy chương đặt trong hộp kính để bên cạnh ảnh. Một đĩa để khách đặt đồ phúng viếng… Có nơi để hai cây chuối con ở hai bên, thể hiện màu xanh cuộc sống. (Nhà có nhiều khách viếng, nên có một bát hương to, hoặc một chậu hoa dùng làm bát hương)…

– Bài vị tạm thời làm bằng giấy, thường do thầy cúng làm hoặc người nắm chắc nội dung của bài vị làm cũng được. Hiện ta vẫn quen viết bài vị bằng chữ nho. Nội dung ghi: Họ tên người mất: bí danh, bút danh, chức danh, thế thứ trong gia đình, ngày tháng năm sinh, ngày tháng năm mất.

– Minh tinh: Có nơi gọi Cờ vía, là một dải giấy đỏ, treo vào cành tre còn lá tươi xanh ở ngọn. Nội dung cơ bản viết trên minh tinh là nêu chức tước, phẩm hàm của người đã mất.

Hai bên cạnh bàn có hai chữ Trung Tín (dùng cho đàn ông). Hai chữ Trinh Thuận (dùng cho đàn bà):

trungtintrinhthuan

Việc dùng các chữ trên là thể hiện tính nhân văn cao cả. Người chết là dứt nợ trần gian, mọi công nợ đều được trút bỏ. Khi đã chết rồi, họ trở về cõi vĩnh hằng gặp ông bà tổ tiên, với tư cách là những người trung trực tín nghĩa, trinh trắng và nhu thuận; để bắt đầu một cuộc sống mới, ở một thế giới mới!

Bàn thờ vong kê phía trước quan tài, phải cao hơn mặt quan tài độ 40 cm. Dùng vải đen phủ từ mép bàn thờ vong xuống sát đất. Giữa tấm vải đen dán một chữ Thọ trắng hình tròn giống chữ Thọ ở đầu quan tài. Bên cạnh để Minh tinh.

cacchutho

Các kiểu chữ Thọ thường dùng.

* Trang trí phòng tang: Phía trong quan tài treo một phông đen. Trang trí như hình sau. (Các chữ đều mầu trắng)

Góc trên ảnh dán một giải băng tang đen. Trường hợp không có ảnh, chuyển hai dòng chữ cuối lên trên. Hai bên quan tài trải chiếu cho con cháu ngồi chịu tang.

Đồ trang trí này, các công ty dịch vụ tang lễ làm trọn gói từ A đến Z, kể cả việc cần đưa đi hỏa táng.

Ở nông thôn, Chính quyền thôn và Chi hội Người cao tuổi chủ động sắm trước, may cờ tang, trống cái và các thứ phục vụ cho Tang lễ, theo quỹ đóng góp tự nguyện của toàn dân.

* Một việc cần làm lúc này là: chuẩn bị áo tang cho con cháu và những người phải để tang. Tính số người chịu tang mà làm, không được làm thừa. Con trai thì áo xô khăn trắng, con gái và con dâu thì áo xô và mũ trắng. Những người chịu tang còn lại đến hàng cháu, xé vải trắng gấp thành khăn trắng nhỏ để quấn trên đầu. Hàng chắt thì khăn vàng, hàng chút thì khăn đỏ.

Hiện có đám vẫn còn giữ tục con trai đội mũ rơm, gậy tre (nếu cha mất) hoặc mũ rơm gậy vông vót vuông (nếu mẹ mất).

Người chịu tang chưa về kịp, khăn tang của người đó để trên bàn thờ vong.

   4) TẮM GỘI CHO NGƯỜI CHẾT

Việc này xưa gọi là “Lễ Mộc dục – tắm gội”. Cần tiến hành nhanh, càng sớm càng tốt không nên để lâu. Để lâu cứng các khớp sẽ khó khăn khi nhập quan.

Nấu nước ngũ vị hương, dùng khăn mềm lau rửa toàn thân sạch sẽ. Cắt móng tay, móng chân, chải đầu. Dùng tất nilon lồng vào hai bàn tay và hai bàn chân, để thuận tiện cho sau này, khi cải táng gom đủ các đốt tay và chân.

Sau đó thay quần áo mới cho người chết. Nữ giới thêm đồ trang sức giả như vòng, nhẫn, dây chuyền, hoa tai… cho đẹp (có thể đánh phấn cho dung mạo hồng hào). Hai bàn tay để úp trên bụng, cột hai ngón tay cái và hai ngón chân cái lại. Có người cho rằng buộc như vậy là “trói” trước khi chôn! Người chết là “nhắm mắt xuôi tay”, nên để hai tay xuôi theo người. Việc làm này còn tùy thuộc tập tục từng địa phương. Ai cũng thấy Bác Hồ trong hòm kính hai tay để trên bụng!

Dùng một dây vải rộng bản giống băng y tế, luồn qua lưng và buộc cố định hai vai lại, không để vai nở ra, nhằm khi nhập quan được dễ dàng.

Theo Thọ mai gia lễ khi làm lễ mộc dục, tang chủ quỳ xuống khóc mà than rằng:

   “Tư thỉnh mộc dục, dĩ điều cựu trần. Cẩn cáo!”

tamrua

   Nay xin tắm rửa sạch sẽ bụi trần. Kính cáo!

Rồi tiến hành tắm gội. Trong Thọ Mai quy định con trai tắm gội cho Cha, con gái tắm gội cho Mẹ. Đây là một trong những việc báo hiếu cuối cùng của con cái đối với cha mẹ. Ngày nay cũng không nên câu nệ quá, tùy điều kiện mà vận dụng, người trong họ tộc hoặc bạn làm cũng được.

   5) BỎ GẠO VÀ TIỀN VÀO MỒM.

Lễ này gọi là Phạm hàm – Là bỏ gạo, tiền vào mồm làm cho thanh tịnh người chết.

Dùng đũa tách hai hàm răng ra, rồi bỏ gạo nếp rang và 3 đồng tiền trinh, có nhà còn bỏ thêm một chút xíu vàng sống vào mồm người chết. Trước kia nhà giầu có, thế gia vọng tộc còn bỏ 9 hạt trân châu. Người xưa quan niệm để trừ tà ma ác quỷ và có tiền ăn tiêu, đi đường.

Thực ra có ý nghĩa rất vệ sinh. Gạo nở ra hút nước, kim loại hạn chế xú khí.

Theo Thọ Mai gia lễ, khi làm Lễ Phạm hàm: Mọi người quỳ xuống, tang chủ khấn rằng:

   “Tư thỉnh phạm hàm phục duy hàm nạp. Cẩn cáo!

   tutinhphamhgam

   Nay xin Phạm hàm, thỉnh người nhận lấy. Cẩn cáo!”

Tang chủ lễ một lễ rồi đứng lên, lật khăn trên mặt. Một người trong nội tộc xướng:

   – Sơ phạm hàm! Phạm hàm lần thứ nhất.

Tang chủ tách hai hàm răng, dùng thìa xúc gạo đổ vào, bỏ một đồng tiền và một chút vàng…Làm như vậy ba lần theo một người trong nội tộc xướng:

Nhị phạm hàm! Phạm hàm lần thứ hai.

Tam phạm hàm! Phạm hàm lần thứ ba.

Việc nút bông các lỗ trên cơ thể người chết và thực hiện phạm hàm có ý nghĩa khoa học, hạn chế ô nhiễm môi trường.

Đối với cơ thể người, những hệ quả sinh lý của sự chết là một chuỗi những biến đổi: đầu tiên là trương phình lên, sau đó là sự phân rã, tiếp theo là những biến đổi sau phân rã, cuối cùng, chỉ có bộ xương là tồn tại lâu nhất.

Giai đoạn sớm sau khi chết (15 –120 phút tùy nhiều yếu tố), xác trở nên mát lạnh, da tái nhạt, các cơ vòng giãn ra, dẫn đến việc tống xuất nước tiểu, phân và những gì chứa trong dạ dày cũng trôi ra ngoài nếu xác bị di chuyển. Máu dồn xuống, tạo thành các ổ chứa ở phần thấp của xác (theo trọng lực) gọi là hồ máu tử thi, trong vòng 30 phút và bắt đầu đông lại. Các cơ co lại, tạo nên co cứng tử thi, với đỉnh điểm là 12 giờ sau khi chết và kết thúc 24 giờ sau khi hình thành, tùy vào nhiệt độ môi trường.

Trong vòng một ngày, bắt đầu có các dấu hiệu phân hủy, do cơ chế tự hủy lẫn sự tấn công của vi sinh vật, nấm, côn trùng…

Bên trong cơ thể, các cấu trúc bắt đầu sụp đổ, da mất sự liên kết với các mô bên dưới, hoạt động của vi khuẩn sẽ sinh hơi và khiến xác sưng, trương phình ra.

Chưa có một yếu tố xác định cụ thể cho tốc độ phân hủy sau khi chết; một xác chết có thể chỉ còn bộ xương sau vài ngày hoặc còn gần như nguyên vẹn sau hàng nghìn năm, đó là những xác ướp.

Để đảm bảo an toàn vệ sinh trong cộng đồng, người chết cần được chôn hoặc hỏa táng sau 24 giờ. Trường hợp bất khả kháng, phải để lâu chờ con cháu ở xa về, thì phải có nhà lạnh. Những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cần chôn ngay trong ngày.

  6) KHÂM LIỆM.

Khâm liệm nghĩa là bọc thi hài vào chăn mỏng hay vải, trước khi đưa vào quan tài (nhập quan).

Khâm liệm, nhập quan, phát tang và an táng là các việc đã được chọn giờ kỹ lưỡng, đúng giờ là tiến hành các việc trên không được chậm trễ. Ba việc Khâm liệm, Nhập quan, Phát tang làm kế tiếp nhau, không gián đoạn. Riêng việc an táng chọn ngày giờ khác, vì còn quàn quan tài tại nhà để thờ vong thường là một ngày, một đêm nữa.

Để khâm liệm, trước hết trải chiếu xuống đất, bên cạnh chỗ quàn quan tài, đặt ba chiếc dây vải tầm ngang vai, ngang mông và ngang bắp chân người chết; rồi trải tấm vải trắng đã may, đủ diện tích bọc thi hài lên trên ba chiếc dây ấy. Đặt người chết vào chính giữa, vắt vải thừa ở chân lên trước, kế đến vắt hai bên vào và cuối cùng là vắt vải thừa ở trên đầu xuống. Cột ba dây đai phía ngoài nhằm cố định vải liệm.

Nay thường để lộ mặt, cho người đi xa về muộn, cùng con cháu và người viếng nhìn mặt lần cuối. Trên nắp quan tài có tấm kính nhỏ, đủ nhìn mặt người quá cố. Trước khi đưa đi an táng, rút tấm kính ra và phủ nốt đoạn vải liệm cho kín mặt. Rồi thay tấm kính bằng một tấm gỗ, để sau này bốc mộ được an toàn cho người làm.

Ngày trước có đại liệmtiểu liệm. Việc ấy là do chưa có vải khổ to như ngày nay, khi liệm đều dùng vải khổ nhỏ chỉ độ 40 phân. Đại liệm có 6 tấm vải, một tấm dọc theo thân người và năm tấm ngang. Tiểu liệm có 4 tấm vải, một tấm dọc theo thân người và ba tấm ngang. Khâm liệm xong tiến hành nhập quan luôn.

Theo Thọ Mai Gia Lễ: Tang chủ quỳ xuống và khấn rằng:

   “Thỉnh nghinh nhập liệm. Cẩn cáo!

   thinhnghinh

  Xin mời nhập liệm. Kính cáo!

Lễ một lễ rồi đứng lên, lúc ấy mọi người mới tiến hành liệm.

   7) NHẬP QUAN. 

Nhập quan là đưa thi hài vào quan tài. Trước khi nhập quan phải kiểm tra quan tài và gắn kín những chỗ nứt nẻ. Bây giờ dùng keo dán gỗ rất tốt.

Thầy cúng thắp hương hươ hươ, khấn vái rồi làm thủ tục phạt mộc – dùng dao chặt vào bốn góc phía trong quan tài nhằm “đuổi bọn ma quỷ và mộc tinh – cây thành tinh, định lẻn vào!”. Rồi đưa quan tài vào vị trí để quàn.

Con cháu mặc đồ tang phục đứng hai bên, những người trong họ hàng thân thuộc nâng thi hài nhẹ nhàng đặt vào quan tài. Trước đây thường lót dưới đáy quan tài bằng chè khô hay gạo rang, rồi đến một tấm gỗ đục 7 lỗ tượng trưng cho 7 ngôi sao Bắc đẩu. Bây giờ có thể dùng giấy vệ sinh lót đáy và chèn hai bên, có tác dụng hút nước tốt và chèn cho êm, chú ý chèn chặt phía đầu khỏi bị xê dịch khi đưa đi an táng. Rồi làm thủ tục gọi hồn. Theo Thọ Mai phải là con trai trực tiếp gọi hồn, cầm áo người chết trèo lên mái nhà hoặc ra đường gọi hồn.

Bây giờ thầy cúng, hoặc một người trong họ làm thủ tục gọi hồn cũng được, không nhất thiết phải là con trai. Quan niệm cho rằng người chết hồn lìa khỏi xác, còn quanh quất cần được gọi về nhập xác. Người gọi hồn cầm áo của người chết ra sân hoặc ngoài đường, quay bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và gọi. Đàn ông thì gọi “ba hồn bảy vía ông…về nhập quan”. Đàn bà thì gọi “ba hồn chín vía bà…về nhập quan”. Xong bỏ áo người chết vào quan tài, coi như hồn người chết đã về nhập quan.

Thực ra theo quan niệm Phật giáo, khi chết hồn thoát xác và sang một thế giới khác. Việc nhập xác chỉ là vía hay còn gọi là phách, sẽ tan cùng với thân xác.

Việc làm phạt mộcgọi hồn là một tục, mang tính tâm linh đã ăn sâu vào tâm thức người Việt.

Lại có đám bỏ vào quan tài cỗ bài tam cúc hoặc cỗ bài chắn, con dao…cho rằng để trừ tà ma! Chẳng qua cũng chỉ là phép giải tâm lý cho người sống an lòng.

Sau khi gọi hồn nhập xác, đóng nắp quan tài và tiến hành làm Lễ phát tang ngay. Có nơi dùng ba chiếc lạt tre buộc vòng qua quan tài.

Một số nơi vẫn có tục: Con cháu và người xung tuổi với người chết không được liệm và nhập quan. Xét ra không nhất thiết phải như vậy, đây là việc “nghĩa tận” con cháu làm, càng thể hiện tấm lòng báo hiếu ân sâu nghĩa nặng được tăng thêm!

Theo Thọ Mai Gia Lễ, khi nhập quan con cháu xếp hàng quỳ xuống mà khóc (lúc này mới được khóc). Tang chủ quỳ trước quan tài mà khấn rằng:

   “Tư dĩ cát thời thỉnh nghinh nhập quan. Cẩn cáo!

   tudicatthoi

      Nay được giờ tốt xin người nhập quan. Kính cáo!

Tang chủ lễ một lễ rồi đứng lên. Con trai một bên, con gái một bên đứng ra hai phía, nhường chỗ cho những người bà con giúp việc xúm nhau nâng thi hài lên, rồi rước người vào quan tài thật êm ái. Con cháu đều khóc cả lên.

Trong quan tài chèn chặt bằng vải hoặc giấy…cho êm, phòng khi di chuyển không bị xê dịch, bỏ các thứ cần thiết vào trong quan tài, theo yêu cầu gia chủ và ý kiến thầy cúng.

Đóng nắp quan tài, quàn đặt trên hai cái gía cao khoảng 40 – 50cm. Hiện nay nơi bán áo quan, có bán sẵn hai cái giá ấy. Có nơi đặt quan tài trên hai khúc thân cây chuối.

Trên nắp quan tài có bát cơm úp, đôi đũa tre vót hoa man kẹp quả trứng luộc, cắm vào bát cơm. Người chết là đàn ông, trên nắp quan tài để 7 khúc chuối con để cắm hương, kèm theo 7 ngọn nến. Người chết là đàn bà, trên nắp quan tài để 9 khúc chuối con để cắm hương, kèm theo 9 ngọn nến.

Phía trước quan tài là bàn thờ vong đã chuẩn bị. Đèn nến, hương trên bàn thờ vong và nắp quan tài thắp liên tục đến khi đưa đi an táng.

Xong đâu đấy, tiếp theo làm Lễ Phát tang ngay

II – NHỮNG VIỆC TỪ LỄ PHÁT TANG ĐẾN AN TÁNG

   Vận dụng Thọ Mai Gia Lễ, chúng ta chỉ làm những việc không thể bỏ được, vì nó là một tục lệ đã ăn sâu vào tâm thức người Việt, trở thành một Luật tục. Mà luật tục có sức mạnh hơn Luật pháp nhiều! Vấn đề là phải có cách ứng xử hợp lý trong điều kiện mới, vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa thể hiện tính Văn hóa truyền thống.

   Nhập quan xong, làm lễ phát tang ngay. Chung quy lại có 6 việc chính từ khi phát tang đến khi an táng:

   1) LỄ PHÁT TANG.

   Lễ Phát tang còn gọi là Lễ Thành phục – Mặc áo tang, chính thức chịu tang từ giờ phút này.

   Trước hết đánh ba hồi chín tiếng trống đại, hội nhạc tang tấu lên khúc nhạc bi ai buồn thảm bằng bài “Lâm khốc”. Báo hiệu Lễ phát tang bắt đầu, cũng là để báo cho cộng đồng dân cư biết: Sau phát tang đến phúng viếng và chia buồn với tang chủ.

   Con cháu chịu tang đứng trước bàn thờ vong, theo thế thứ trong gia tộc. Tang chủ đứng giữa. Chủ Lễ bắt đầu cuộc lễ. Hiện nay phần lớn đều do thầy cúng thực hiện việc này.

   Nội dung Lễ phát tang chủ yếu nêu nỗi đau buồn, tiếc thương vô hạn của người sống đối với người đã khuất. Nhớ lại công lao trời biển của Cha Mẹ, đã vất vả nuôi con cháu trưởng thành. Kể tên đầy đủ người chịu tang gồm con, cháu, dâu, rể anh em…

   Thực hiện nghi thức thắp hương và dâng rượu, nước cho người đã khuất thụ hưởng, cũng là thể hiện lòng thành báo hiếu của con cháu, dâu rể đối với Cha Mẹ…

   Sau khi lễ hoàn tất, tang chủ ra đứng bên bàn thờ vong, để đáp lễ khách phúng viếng. Các con nên thay nhau đứng túc trực. Con cháu chịu tang vào ngồi hai bên quan tài, nỉ non ai oán khóc !….

   – Giới thiệu một bài văn tế Thành phục trong Thọ Mai Gia Lễ:

   Duy…niên hiệu…năm…tháng…ngày…

   …Tỉnh…huyện…Tổng…Làng

   Con là…trước linh sàng…khóc mà than rằng:

   Than ôi! Sương sa mưa đổ, mây phủ núi mờ

   Hỏi Hóa công sao khéo đa đoan,

   Cho người thế thế thời lại thế

   Áo tang trắng trước thềm đau xót thế,

   Than ôi! Lòng báo hiếu phận làm con,

   Sầu đa đoan trong dạ chất thành non,

   Tâm đau sót sóng vỗ làn dâu bể,

   Nhạt nhòa nhỏ lệ tưởng nhớ vong linh.

   Nhân nay tang phục đã an,

   Kính dâng một lễ gọi là dốc lòng báo hiếu thủy chung.

   Kính! ngàn thu suối vàng an nghỉ!

                          Thượng hưởng!

2) NHẠC TANG.

   Dân ta có câu: “Sống dầu đèn, chết kèn trống!” Xem vậy đủ biết, trống kèn trong tang lễ không thể thiếu được.

   Trong đám tang, kèn trống chỉ bắt đầu từ Lễ phát tang, cho đến khi an táng xong về nhà làm lễ cúng an vị bàn thờ người mới mất là kết thúc. Thực hiện nếp sống Văn hóa, từ 22 giờ kèn trống ngừng, không nên kèn trống cả đêm như ngày trước, chỉ bắt đầu sau 5 giờ sáng để khỏi ảnh hưởng tới cộng đồng.

   Hội kèn trống còn có cách gọi khác là “Ban nhạc Hiếu”, hay “Phường bát âm”. Tiếng trống kèn được coi là những lời khóc than, thương tiếc của con cháu và cũng là âm thanh tiễn đưa hồn người chết về nơi chín suối với ông bà tổ tiên.

   Một số nơi đã thực hiện thu băng cassette, các bài nhạc tang để dùng trong tang lễ. Qua một thời gian thực hiện người ta cứ bỏ dần. Mặc dù có sự khuyến khích và nâng lên thành quy chế làng Văn hóa. Nhưng vẫn không duy trì được. Đây là một thực tế, ngành Văn hóa cần nghiên cứu và hướng dẫn sao cho phù hợp cuộc sống.

   Khi đời sống kinh tế được nâng cao, người ta không chấp nhận thứ nhạc “chết” vô hồn ấy. Ấy là chưa kể các hội kèn trống, còn làm thỏa lòng con cháu khi họ muốn qua hội kèn trống, cất lên tiếng than ai oán của lòng mình đối với người đã mất. Bởi vậy Hội kèn trống là một thứ “nhạc sống có hồn” đáp ứng ý muốn mọi người.

   Một số nơi có tập tục, người chết trẻ không có nhạc tang, chỉ đánh trống lúc phát tang và khi an táng.

   Ngày trước trong đám ma, phường nhạc hiếu thường chơi hai bản “lâm khốc” và “lưu thủy” vừa bi ai, vừa lưu luyến làm mủi lòng người. Nhất là khi đêm xuống, đám tang chuyển sang phần ai vãn, não nuột nỉ non lắm.

   Nhưng hiện nay đã có sự lạm dụng thái quá. Việc “khóc mướn” gần như phổ biến, ngày càng mang tính chuyên nghiệp, có bài bản lớp lang; có nỗi đau của người sống và cả lời “dặn dò” của người đã khuất.

   Ví dụ: Lời người con ở xa về chịu tang:

   “Mọi khi nhận điện thì vui,

   Hôm nay nhận điện rụng rời chân tay.

   Ước gì con được về ngay,

   Để con báo đáp công này mẹ ơi”!!!

   Còn đây là lời dặn dò con cháu của người đã khuất:

   “Tuổi Mẹ nay đã Tám mươi,

   Thôi chào con cháu vẫy chào, xa nhau.

   Thương Mẹ thì hãy nhớ câu.

   Cháu con hiếu thảo khắc sâu trong lòng!”

   Không ít những đám tang có cả nhạc trẻ, thậm chí còn đưa cả nhạc nước ngoài vào. Một số vùng còn mời hội kèn đồng bên công giáo, phục vụ đám tang cho thêm phần hoành tráng! Đã có ban nhạc thổi kèn bài “Love You More Than I Can Say, Sealed With A Kiss hay Oh! Carol” !!!

   3) LỄ CÚNG SÁNG TỐI.

   Lễ này gọi là “Chiêu tịch điện – Cúng sáng tối

   Từ xưa vẫn cho rằng khi chưa an táng, còn quàn quan tài ở nhà, coi như cha mẹ còn sống. Trong ngày, buổi sáng và buổi tối vấn an thăm hỏi và mời bố mẹ xơi cơm, đi ngủ như thường vậy! Việc cúng này bây giờ cũng đơn giản, đến bữa dọn mâm cúng, thắp hương thành tâm khấn mời bố mẹ dùng bữa!

   Trước kia việc cúng này khá rườm rà. Ngày nay đã bỏ đi nhiều.

   Theo Thọ Mai Gia lễ, khi chưa an táng coi như người còn sống, buổi sáng mời vong dậy mà ăn, buổi tối mời vong đi ngủ!

   Ngày trước đặt bên cạnh quan tài một cái giường gọi là Linh sàng, trên giường đặt Hồn bạch. Hồn bạch là một giải lụa trắng, khi người chết đặt lụa trên xác để lấy hơi, rồi mang lụa ra kết thành hình người. Ban ngày thờ hồn bạch trên bàn thờ vong, ban đêm đưa hồn bạch vào linh sàng cho vong ngủ! Ngày xưa chưa có ảnh, kết hồn bạch coi như người còn sống vậy.

   Cứ sáng dậy con cháu vào linh sàng khóc ba tiếng, cuốn màn lên rồi tang chủ quỳ xuống mà khấn:

   “Nhật sắc di minh thỉnh nghinh linh bạch vu linh tọa. Cẩn cáo!

   nhat_sac_di_minh

   Giờ đã sáng rồi, rước linh bạch ngự linh ra tọa. Cẩn cáo!”

   Lễ một lễ, rước hồn bạch ra bàn thờ vong, rồi cúng cơm.

   Bắt đầu tiến hành lễ, cũng có đủ các thủ tục xướng lễ, thắp hương, rót rượu, dâng cơm cúng, dâng trà gần như lễ phát tang, rất phiền phức.

   Buổi tối tang chủ lại rước hồn bạch vào linh sàng, buông màn khóc lên ba tiếng rồi khấn:

   “Nhật thời hưng mộ thỉnh nghinh linh bạch vu tẩm sở. Cẩn cáo!

   nhat_thoi_hung_mo

   Trời đã tối rồi rước linh bạch vào giường ngủ. Cẩn cáo!”

   Việc làm này bày tỏ nguyện vọng con cháu, được hầu hạ cha mẹ trước khi đi xa. Cũng là tấm lòng báo hiếu vô hạn. Nhưng bây giờ xét ra quá phiền phức, không ai làm như vậy nữa. Chắc rằng vong linh cha mẹ, cũng không muốn con cháu mình làm thế! Nêu lại vậy, để độc giả tham khảo sự phức tạp không cần thiết, bỏ đi cũng phải lẽ vậy.

   4) ĐỘNG QUAN.
Đêm trước hôm an táng, thường vào giờ Tý (23 – 24 giờ) thực hiện động quan, tức là nâng quan tài lên và đặt xuống ba lần, cũng có thể xoay nghiêng hai bên. Việc làm này như một động tác trở mình của cha mẹ còn đang ngủ!

   Nâng giấc cho cha mẹ khỏi mỏi và ngủ ngon hơn! Thế mới biết việc báo hiếu được quy định chặt chẽ đến dường nào!

   Theo Thọ Mai Gia lễ, tang chủ quỳ trước cữu mà thanh rằng:

   “Kim dĩ cát thời động quan. Cẩn cáo!

   kim_di_cat_thoi

   Nay được giờ lành xin động quan. Kính cáo!”

   Ngày trước còn có việc chuyển cữu, tức là di chuyển áo quan về nhà thờ tổ để tế, sau người ta chỉ rước hồn bạch sang nhà thờ tổ.

   Nghi thức này bây giờ đã bỏ, người ta chỉ làm động quan thôi.

   5) PHÚNG VIẾNG.

   Phúng viếng là biểu hiện tình cảm sâu nặng của những người trong họ tộc, của bà con trong xóm, ngoài làng ở cộng đồng dân cư và của các cơ quan đoàn thể đối với người quá cố; đến chia buồn với gia đình và tỏ lòng thương cảm, thắp nén tâm nhang để vĩnh biệt người đã khuất. Dù bận rộn đến đâu cũng thu xếp về, không quản đường xá xa xôi cố gắng đến kịp trước giờ an táng với tấm lòng “nghĩa tử là nghĩa tận!”.

   Để việc phúng viếng được tốt và chu đáo, ban lễ tang bố trí rạp, bàn ghế và trầu, thuốc, nước cho khách chờ. Thỉnh thoảng đọc tiểu sử, lai lịch người quá cố và thời gian biểu lễ truy điệu, lễ an táng cho mọi người đều biết.

   Có bàn đăng ký các đoàn viếng, sắp xếp lịch trước sau; có người xếp vòng hoa, các câu đối, bức trướng phúng.

   Tang chủ luôn túc tực bên quan tài để đáp lễ. Một người hộ việc tang chủ, quan sát khách viếng để thắp hương, rồi đưa hương cho từng người đến viếng.

   Ban Lễ tang đọc thông báo cho gia đình và mọi người biết, các tập thể và cá nhân đến viếng. Ban nhạc hiếu tấu lên khúc nhạc ngắn trong khi đoàn vào, rồi dừng cho khách nói lời chia buồn với tang chủ và thắp hương. Người đến viếng vái hai vái, (vì chưa an táng coi như vái người đang sống). Tang chủ đáp lễ, cũng vái hai vái. Người viếng có thể đi vòng quanh quan tài nhìn và vĩnh biệt người chết lần cuối.

   Hiện nay phúng viếng thường có vòng hoa, bức trướng và phong bì tiền. Một nét đẹp Văn hóa của ta. Nhưng đây cũng là việc nhạy cảm, đơn vị, cơ quan, người đi phúng viếng cần biết giới hạn. Nếu vượt ngưỡng sẽ trở nên mất ý nghĩa.

   – Về Câu đối phúng viếng:

   Ngày trước hay đi câu đối, nội dung câu đối hợp với cảnh nhà, cảnh người đã khuất và mối thâm tình của người viếng. Các nhà nho, văn nhân kẻ sĩ, quan chức thường làm câu đối phúng viếng bạn bè thân hữu qua đời. Nhiều câu đối rất hay còn lưu lại mãi. Thi hào Nguyễn Du mất, có một câu đối được truyền tụng nhiều nhất, vì nó nói gọn và đầy đủ sự nghiệp cuộc đời của Ông:

   “Nhất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh, sinh bất thiểm.

   Bách niên sự nghiệp, tại gia, tại quốc, tử do vinh

   nhat_dai_tai_hoa

Nghĩa là:

   Tài hoa một bậc ai tày, làm sứ, làm khanh, sinh chẳng nhục.

   Sự nghiệp trăm năm để lại, ở nhà, ở nước, thác còn vinh.

   Một câu đối chữ Nôm con rể khóc bố vợ:

   Tạo vật khéo trêu ngươi, kéo đám mây mù che núi Nhạc

   Rể con không nhẽ nín, nổi cơn gió lạnh thổi nhà Băng

   tao_vat_kheo_treu

Bây giờ câu đối phúng có chiều hướng ít đi, cũng là điều đáng tiếc. Một nét đẹp Văn hóa, nên chăng cần được khuyến khích khôi phục lại.

   – Về bức Trướng:

   Các Đoàn thể, cơ quan đơn vị và các gia đình thông gia, thường làm bức trướng. Với nội dung sát thực như: “Vô cùng thương tiếc…” rồi ghi tên đơn vị, đoàn thể và gia đình ông bà…Kính viếng!.

   Một số bức trướng mà nội dung là những công thức có sẵn như: “Tây thiên cực lạc tay_thien_cuc_lac”, “Tiên cảnh nhàn du tien_canh_nhan_du”, “Thiên thu vĩnh biệt thien_thu_vinh_biet có hình Phật bà quan âm tỏa sáng. Trong khi người mất không phải là Phật tử!. Lại có đám nhầm sang chúc thọ ghi câu: “Phúc như Đông hải. Thọ tỷ Nam sơn! phuc_nhu_dong_hai

   Hiện nay bức trướng thường xử dụng mầu đỏ, thực ra chưa được hợp cách với mầu tang chế. Mầu tang chế của Việt nam là hai mầu đen trắng. Trước đây điều này quy định rất chặt chẽ. Hàng con cháu, câu đối phúng bao giờ cũng làm bằng vải trắng.

   Người ta chấp nhận bức trướng có hình Phật bà quan âm, mặc dù không phải ai cũng là tín đồ Phật giáo. Bởi lẽ đạo Phật du nhập trước tiên và có ảnh hưởng hàng ngàn năm nay rồi.

   Người viếng câu đối và bức trướng, cần chú ý nội dung cho đúng và hợp người, hợp cảnh, đồng thời có tính Văn học. Nhất là câu đối, quan khách đến viếng, xem và thưởng thức phẩm bình nữa.

   – Tiền phúng viếng:

   Ngày trước thường hay viếng rượu, vàng, hương. Có đám tới vài trăm chai rượu. Bây giờ tục viếng rượu đã thôi hẳn. Người đi viếng chủ yếu là tiền bỏ trong phong bì, có thể thêm vàng hương. Xét ra, cũng là việc nghĩa, góp một phần cho tang chủ, với ý nghĩa đó thì không sao cả.

   – Vòng hoa tang:

   Phần lớn các đơn vị, tổ chức, cơ quan, dòng họ…làm vòng hoa tang viếng. Cách thức và kiểu dáng mỗi vùng không giống nhau. Miền Bắc thường làm vòng hoa hình bầu dục nổi vồng cao lên. Miền Nam lại làm vòng tròn, có từ một đến ba vòng đều phẳng. Trên vòng hoa là một băng vải đen chữ trắng, ghi rõ đơn vị cơ quan hoặc người chủ viếng…

   Mầu sắc hoa ở miền Bắc cũng quy định chặt chẽ. Người chết trẻ, hoa hoàn toàn trắng, thể hiện sự trong trắng trinh nguyên của tuổi mới lớn.

   Phúng viếng là một nét đẹp Văn hóa trong phong tục Việt nam. Thể hiện tình cảm sâu nặng của những người đang sống với người đã từ giã cõi đời. Khi sống có lúc ăn ở không vừa lòng nhau, nhưng khi đã vĩnh biệt; người chết đã dứt nợ trần gian. Hãy để cho một linh hồn được thanh thản và siêu thoát trở về nơi cực lạc. Không ai tránh khỏi cái chết, rồi cũng sẽ đến lượt như nhau cả thôi.

   Nên điều chỉnh việc phúng viếng từ câu đối, bức trướng đến tiền và vòng hoa có giới hạn, thật sự là một nét đẹp Văn hóa trong cộng đồng. Sao cho khỏi lãng phí và thực sự trong sáng. Điều này phải xuất phát từ động cơ chân thành không vụ lợi của người và tập thể đi viếng.

   6) LỄ AN TÁNG.

   Lễ an táng còn gọi là Lễ “Phát dẫn –phat_dan–đưa ma”.

   Được giờ tốt đã chọn, mới tiến hành lễ. Thực hiện lễ an táng có 4 việc theo trình tự sau:

   a-) Cúng lễ trước khi di quan, còn gọi là lễKhiển điện – khien_dien– tiễn biệt”.

   Đây là việc của gia đình. Thầy cúng hoặc tang chủ cùng con cháu nội ngoại thực hiện Lễ tiễn biệt người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng.

   Mọi người theo thế thứ trong nội ngoại gia tộc, xếp hàng trước bàn thờ vong. Thầy cúng hoặc tang chủ thực hiện các bước thắp hương dâng rượu, nước, trang nghiêm như lễ phát tang và đọc lời ai điếu tiễn biệt lần cuối. Con cháu thành kính vái lễ. Quá trình hành lễ, nhạc tang tùy lúc tấu lên khúc bi ai Lâm khốc.

   b-) Làm Lễ truy điệu.

   Đây là việc của Ban Lễ tang thay mặt Đoàn thể, chính quyền hoặc cơ quan đơn vị…làm sau lễ Khiển điện của gia đình. Bà con trong cộng đồng dân cư, cơ quan đơn vị… và bạn bè thân hữu tập trung trước bàn thờ vong.
Đại diện Ban Lễ tang lên tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu và mời Trưởng ban Lễ tang lên làm chủ lễ.

   Chủ lễ trang phục tề chỉnh, trịnh trọng tiến vào bàn thờ vong, thắp ba nén hương rồi vái hai vái. Tang chủ của gia đình đáp lễ cũng vái lại hai vái. Lúc này phường bát âm tấu lên khúc nhạc Lâm khốc não nùng! Mọi người lặng im trong không khí lễ tang.

   Chủ lễ bắt đầu hành lễ, đọc điếu văn. Chủ lễ đọc điếu văn cần chú ý diễn đạt nỗi đau thương của mọi người, thực sự chân thành xúc động; bằng giọng đọc sâu lắng truyền cảm. Lúc hào hùng khi nói về sự nghiệp công lao đóng góp của người đã ra đi. Khi thiết tha da diết về nỗi đau mất mát một người thân yêu…(Tránh đọc điếu văn như đọc một bản báo cáo!)

   Nội dung điếu văn chủ yếu nói về thân thế sự nghiệp. Công lao đóng góp của người đã mất với cộng đồng và xã hội. Công lao sinh thành dưỡng dục con cháu nội, ngoại trưởng thành. Phần thưởng được tặng…Nỗi đau buồn của gia đình và mọi người từ nay mất một người chồng, cha, người bạn v.v…

   Đại diện Ban lễ tang tuyên bố một phút mặc niệm tiễn biệt người đã khuất, từ nay mãi mãi ra đi không bao giờ trở lại!

   Mọi người mặc niệm lần cuối một phút, rồi mới thực hiện di quan ra xe.

   Tùy vị trí xã hội của người mất mà thực hiện nghi lễ theo quy định.

   Cựu chiến binh được phủ quân kỳ lên quan tài. Các cựu binh mặc sắc phục nhà binh, đứng trực hai bên quan tài, theo hướng dẫn của quân đội.

   • Tham khảo một trường hợp cụ thể.

Điếu văn cụ Hoàng Chí Mạnh.

   (Do ông Đoàn Văn, Bí thư Đảng bộ Xã Mai Xuân – Trưởng Ban Lễ tang đọc)

   Kính thưa các Quý Vị!

   Kính thưa các cụ, các ông, các bà, các anh chị cùng họ hàng gia quyến của cụ Hoàng Chí Mạnh!

   Cụ Hoàng Chí Mạnh của chúng ta đã từ biệt cõi trần vào hồi 8 giờ 45 phút ngày 19 tháng 8 năm 2009 tại gia đình, hưởng thọ 85 tuổi.

   Hôm nay, tất cả chúng ta có mặt nơi đây, để vĩnh biệt Cụ về cõi vĩnh hằng.

   Than ôi!

   Đau đớn thay!

   Đời người là hữu hạn!

   Vũ trụ lại vô cùng!

   Nếu có được Thần y Biển Thước – Hoa Đà, cũng bó gối bởi mệnh trời đã điểm!

   Dẫu tìm ra Tiên dược Trường Sinh – Bất Lão, đành khoanh tay vì hoa nở phải tàn!

   Biết rằng Sinh Lão Bệnh Tử là quy luật tự nhiên, nhưng trong cảnh tử biệt sinh ly này; lòng mỗi người chúng ta, ai cũng cảm thương vô hạn!

   Cụ Hoàng Chí Mạnh, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1925 tại Thôn Vân Hoàn, Xã Mai Xuân, huyện Ngọc Hải… Cụ sinh ra trong một gia đình nông dân yêu nước.

   Cụ sớm giác ngộ cách mạng khi còn tuổi Thanh niên. Cách mạng Tháng Tám thành công, Cụ tham gia phong trào Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ.

   Năm 1953, Cụ xung phong tòng quân nhập ngũ và tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Do có thành tích chiến đấu anh dũng, cụ được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam ngay tại mặt trận Điện Biên Phủ ngày 15 tháng 4 năm 1954, đến nay được 55 năm tuổi Đảng!

   Năm 1958, Cụ rời quân ngũ phục viên về xây dựng quê hương.

   Năm 1960, Cụ làm Tổ trưởng Tổ đổi công, rồi chủ nhiệm HTX nông nghiệp Thôn Vân Hoàn.

   Từ năm 1968 đến năm 1975, Cụ làm Phó Chủ tịch Xã Mai Xuân phụ trách Nông nghiệp. Cụ luôn gương mẫu bám đồng lội ruộng, đưa sản xuất nông nghiệp có năng xuất cao, thực hiện tốt phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.

   Từ năm 1976 đến 1980, Cụ làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Xã. Cụ luôn sâu sát cơ sở tìm hiểu nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, góp phần xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân, đưa phong trào của Xã có nhiều bước tiến mới.

   Từ năm 1980 đến 1990, Cụ làm Bí thư Chi bộ Thôn Vân Hoàn. Cụ luôn nêu cao tính chiến đấu, góp phần xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh trong nhiều năm liền.
Từ sau năm 1990 đến nay cụ nghỉ công tác, nhưng vẫn tham gia Hội Cựu chiến binh. Ngoài ra Cụ còn tham gia các tổ chức Xã hội như Hội người cao tuổi, Hội Sinh Vật cảnh và gần đây là Ban Thường trực Hội Thơ Đường UNESCO của huyện nhà.

   Dù ở cương vị nào khi còn công tác, cũng như khi đã được nghỉ, Cụ luôn nêu cao một tấm gương mẫu mực, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng.

   Do có nhiều công lao đóng góp cho Cách mạng, Cụ đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội tặng thưởng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý: Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến trong thời kỳ chống Pháp, Huy hiệu Chiến sĩ Điện biên, Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và nhiều bằng giấy khen trong công tác.

   Cụ đã nếm trải một cuộc đời gian khổ, nhưng cụ không hề kêu ca thắc mắc quyền lợi cá nhân. Cụ luôn sống bình dị, lạc quan, sống có ý chí và mục tiêu phấn đấu, không ngừng học hỏi, tìm hiểu những tiến bộ về mọi mặt góp phần xây dựng quê hương

   Đối với gia đình, Cụ là người chồng, người cha, người ông mẫu mực,

   Hai Cụ sinh hạ được năm người con, hai trai ba gái. Các con dâu rể và các cháu nội ngoại đều trưởng thành, hiện có mười sáu cháu và bốn chút nội ngoại. Cụ luôn chăm lo dạy dỗ việc học hành của các con, các cháu. Cụ thường xuyên động viên con cháu phải học giỏi, học không ngừng để có kiến thức đáp ứng được nhu cầu phục vụ Tổ Quốc. Cụ chăm lo cho cả phong trào khuyến học của quê hương. Đó là niềm hạnh phúc tròn đầy, Cụ được chứng kiến trước khi về nơi an nghỉ cuối cùng.

   Kính thưa quý vị,

   Công lao của Cụ xứng đáng được ghi nhận một cách trang trọng vào trang sử vẻ vang của quê hương.

   Cụ mất đi, Đảng mất một đảng viên trung kiên, đồng đội, bạn bè thân hữu mất đi một người bạn chí tình; vắng mãi bóng Cụ ngâm thơ vịnh nguyệt, lúc nâng ly rượu ngọt, khi mãn cuộc cờ tàn.

   Cụ ra đi, vợ con Cụ mất một người ruột thịt thân thương, từ nay tắt lửa, tối đèn, đâu thấy người thấy bóng. Bà con chúng ta mất đi một người vui tính, khi trăng thanh gió mát, đâu nghe tiếng thấy hình…
Than ôi!

   Từ nay:

   Đêm năm canh vò võ, nhìn ngọn đèn xanh mờ tỏ chốn bàn vong, lòng dạ cháu con đau khôn xiết!

   Ngày sáu khắc triền miên, ngó ông mặt trời chói lọi giữa cao xanh, tâm khảm bạn bè buồn nẫu ruột!

   Gạt lệ đau thương, mọi người đưa tiễn Hồn Cụ về nơi cực lạc.

   Quyết chí bền gan, chúng tôi xây dựng quê ta từng bước đẹp giầu.

   Hôm nay, vào thời khắc linh thiêng này, chúng ta cùng nhớ tới Cụ, tự hào vì Cụ.

   Cầu mong linh hồn Cụ an nhiên siêu thoát cõi vĩnh hằng trong giấc ngủ ngàn thu… Mong Cụ đi, được mồ yên mả đẹp, sống khôn thác thiêng, phù hộ độ trì cho vợ con Cụ được phúc ấm an lành.

   Xin vĩnh biệt Cụ !

   Đề nghị tất cả các quý vị dành một phút mặc niệm !

   Xin chân thành cảm ơn quý vị.

c-) Di quan.

   Trước khi di quan, đại diện gia đình nói lời cảm ơn và xin được lượng thứ, có điều gì khiếm khuyết trong lúc tang gia bối rối.

   Bà con trong nội tộc và bạn bè… cùng nâng quan tài bằng tay hoặc đặt trên vai, dưới sự chỉ huy của một người cầm hai thanh tre (phách) gõ hiệu lệnh. Yêu cầu làm sao cho quan tài luôn thăng bằng, đến mức chén rượu để trên nắp quan tài không sánh ra giọt nào. Khi di quan phải thật sự chậm rãi, từ từ từng nửa bước chân một. Vừa thể hiện nỗi đau tiễn biệt muốn níu kéo lại, cũng là vừa đảm bảo cho quan tài luôn được thăng bằng, để người ra đi trong giấc ngủ yên lành!

   Một số nơi thành lập đội tùy từ 6 đến 8 người, áo quần đồng phục một mầu, có giầy, mũ và găng tay, làm công việc di quan ra xe tang. Đây là mô hình tốt nên phát triển rộng. Chính quyền thôn làng, khu phố kết hợp Hội người Cao tuổi đứng ra làm. Kinh phí chắc chắn nhân dân ở cộng đồng sẽ hưởng ứng. Vì đáp ứng nguyện vọng chu đáo và nghiêm túc trong Tang lễ. Nên để Hội Người Cao tuổi quản lý các đồ dùng cho Tang lễ.

   Ở vùng nông thôn hiện nay, hầu như không mấy đám khiêng quan tài nữa. Làng quê đều có xe tang thô sơ chở quan tài, úp trên quan tài là nhà táng bằng gỗ hoặc khung sắt có phủ vải thêu các hoa văn rồng phượng sặc sỡ.
Thị xã và Thành phố có xe tang đen của Công ty mai táng thực hiện việc này.

   Trên đường đưa ma vẫn còn tục rải vàng mã. Nên chăng cần giảm bớt tiến tới bỏ hẳn đi để bảo đảm vệ sinh môi trường.

   Ngày trước thực hiện theo Thọ Mai Gia Lễ, việc đưa ma vô cùng phiền phức: Đi đầu là hai phương tướng mặc áo mũ đạo sĩ, đeo mặt nạ, cầm dao hoặc binh khí để trừ tà ma, rồi đến đoàn người vác cờ tang. Tiếp là Minh tinh, Vòng hoa, Trướng, Câu đối, Linh xa, Phường bát âm có phèng phèng, thanh la, kèn, trống. Rồi đến đoàn người khiêng Nhà táng. Nhà táng làm bằng khung tre nứa, dán giấy mầu, chạm trổ các hoa văn và hình rồng phượng tinh xảo sặc sỡ, úp trên quan tài. Nhà phú qúy, nhà táng làm cao ba tầng như một cung điện nguy nga!

   Sau cùng là đoàn người đi đưa ma… Người chết là phật tử còn có đoàn đội cầu. Cầu là một băng vải mầu, dài trên 10 mét, hai diềm may vải mầu khác loại. Các già đi dưới cầu, tay lần tràng hạt, miệng đọc kinh, cầu cho người ra đi chóng được an nhiên siêu thoát.

   Trưởng nam thì phải cha đưa mẹ đón. Tang cha, con trai phải đi chân đất, chống gậy tre đi sau quan tài, gọi là “đưa”. Tang mẹ, con trai phải đi chân đất, chống gậy vông đi lùi trước quan tài, gọi là “đón”. Con gái và nàng dâu khi đến cầu và ngã ba phải nằm xuống đất cho người ta khiêng quan tài qua, gọi là “lăn đường”. Đây là một hủ tục xét ra không cần thiết. Bây giờ không ai làm nữa. Hiếu tại tâm mới là chí hiếu. Ở vùng quê ngày trước, một đám tang từ nhà ra nghĩa địa khoảng một cây số, nhưng phải đi mất một buổi mới tới nơi hạ huyệt . Bởi vậy trên đường đi phải có nhiều trạm nghỉ.

   Nhà phú quý còn có nhà trạm, để dừng nghỉ và cúng tế giữa đường, đến nghĩa địa lại có trạm tế trước khi hạ huyệt. Đoàn người đưa tang đi thật chậm, dưới sự chỉ huy của một người gõ phách giữ nhịp và luôn giữ thăng bằng quan tài. Người khiêng phía trước điều chỉnh tốc độ, không cho người phía sau bước nhanh được.

   d -) Hạ huyệt.

   Đến nơi hạ huyệt, đặt hai đòn tre ngang qua huyệt. Di quan tài đặt trên hai đòn tre. Lồng hai giây chão chắc chắn dưới quan tài, dùng khi hạ quan tài cho thuận tiện.

   Sau khi ổn định các thứ mang theo, mọi người đứng xung quanh. Bắt đầu hành lễ. Trước hết là Lễ cáo Thổ thần xin cho người chết được nhập mộ. Tiếp theo là lễ vĩnh biệt lần cuối, xưa gọi là lễ “Thành phần –thanh_phan đắp mộ”. Trong Lễ Thành phần cũng đủ các bước do thầy cúng điều khiển.

   Xong Lễ hạ quan tài, chỉnh hướng cho phù hợp hướng của năm. Trải tấm minh tinh lên nắp quan tài. Con cháu lui ra, vì không ai nỡ chôn người thân. Bạn bè thân hữu bỏ nắm đất vĩnh biệt. Người ngoài hoặc ban quản trang làm công việc chôn và đắp mộ. Có nơi lát một lớp cỏ che kín mộ. Chôn bia tạm, để bát cơm cúng, chén rượu trên mộ, thắp hương trước bia và trên mộ, xếp vòng hoa tang chung quanh.

   Mọi người đi một vòng quanh mộ, tiễn biệt lần cuối người ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng.

   Nếu có nhà táng giấy, đốt luôn cùng với những thứ đồ dùng của người chết thấy cần thiết phải đốt.

   III – NHỮNG VIỆC TỪ SAU AN TÁNG ĐẾN CẢI TÁNG

Từ sau lễ an táng đến khi cải táng là một thời gian dài, ít nhất là ba năm trở lên, tùy gia đình cải táng sớm hay muộn. Nhưng có 6 việc phải làm:

   1) CÚNG BA NGÀY.

Sau khi an táng đến ngày thứ ba, con cháu và thầy cúng ra mộ, cúng mở cửa mả, đắp thêm cho mộ được cao ráo đẹp đẽ, lấy tre nứa rào chung quanh để trâu bò không vào được, rồi về nhà cúng ba ngày.

Tùy nơi có cách tính ba ngày khác nhau. Một số địa phương tính từ ngày mất là ngày thứ nhất. Cách này là do chỉ để người mất, quàn tại gia một ngày đêm, nên sau ngày chôn là đến ngày thứ ba, tiến hành cúng ba ngày luôn, như vậy là hợp lý.

Một cách tính nữa, tính từ ngày chôn là ngày thứ nhất. Trường hợp này do quàn tại gia hoặc ở nhà lạnh của bệnh viện quá ba ngày, để chờ con cháu về đông đủ.

Dân ta quan niệm rằng sau khi chôn, hồn vẫn còn phiêu diêu chưa ổn định. Mặt khác trước khi chôn, bàn thờ người chết chưa thật sự yên vị, vì bàn vong di chuyển ra nghĩa địa rồi lại đưa về. Đến ngày thứ ba mọi việc đã chu tất cho bàn thờ, mời hồn người chết về yên vị tọa lạc để con cháu phụng thờ.

Bàn thờ người mới mất để ở vị trí riêng biệt, chưa được đưa thờ chung ở bàn thờ Gia tiên. Vì người mới mất chưa được sạch sẽ.

Sắp đặt bàn thờ có ảnh, bát hương…và các thứ cần thiết. Tùy số lượng câu đối trướng mà treo cho hợp lý quanh bàn thờ. Phía sau bàn thờ, treo cao những bức trướng của dòng họ, tổ chức, tập thể; rồi đến trướng các gia đình thông gia, họ mạc…bạn bè thân hữu. Có thể treo vây quanh tạo không gian ấm cúng cho bàn thờ.

Thủ tục cúng ba ngày phần lớn vẫn do thầy cúng làm.

Từ đây đèn hương liên tục thắp cả ngày và đêm. Bàn thờ có nước, trầu, rượu, hoa quả; vài hôm thay một lần. Hàng ngày sáng chiều đến bữa, đều cúng cơm, coi như cha mẹ, ông bà vẫn bên con cháu dùng bữa hàng ngày. Cúng cơm này không cầu kỳ, trong nhà ăn gì cúng thức ấy, chỉ một ít tượng trưng, có bát đũa đặt trong một khay nhỏ, và rượu nước, trầu cau…

Trước đây cúng ba ngày, còn là dịp để tang chủ mời bà con trong họ ngoài làng, bạn bè thân hữu gần xa đến bầy tỏ lòng cám ơn, xin đại xá cho những thiếu sót, khiếm khuyết không tránh khỏi. Sau đó là tổ chức ăn cỗ. Bây giờ tục lệ ăn cỗ ba ngày mở rộng như vậy không còn nữa. Tang chủ có mời cũng không mấy ai đi. Tang chủ cám ơn qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh và vô tuyến truyền hình.

Việc cúng cơm thường nhật, duy trì ít nhất đủ tuần 49 ngày. Có nhà duy trì đến tuần 100 ngày mới thôi. Hương đèn từ đây cũng tắt.

Theo Thọ Mai Gia Lễ việc cúng ba ngày có nhiều thủ tục phiền phức lắm; Cúng ba ngày gọi là “Tế ngu – te_ngu– yên vị”.

   Ngu có nghĩa là yên vị. Sau khi chôn, hồn phách còn ở cõi phiêu bồng chưa nơi nương tựa. Phải có lễ này để mời hồn về yên vị vào bàn thờ cho con cháu thờ phụng. Đủ Lễ phải có ba tuần tế là: Sơ ngu, tái ngu và tam ngu. Thủ tục cũng đủ các bước như một lễ Thành phục đã nói ở trên. Chủ lễ và tang chủ vái quỳ dâng hương, rượu, nước. Con cháu đứng sau, cũng làm đủ các bước theo chỉ dẫn của thầy cúng. Lúc khóc lúc dừng, khi quỳ lạy, lúc đứng lên…kéo dài hàng tiếng đồng hồ mới xong một buổi tế.

Bây giờ không ai làm dài dòng như vậy, chỉ cúng ngắn gọn là xong.

Giới thiệu bài văn Tế ngu trong Thọ Mai để tham khảo:

   “Than ôi!

   Sao đổi phương Nam, mây che trời Bắc

   Tưởng đến cù lao chín chữ, bú mớm ba năm

   Nhớ khi sớm viếng tối thăm, lòng bao hớn hở

   Giờ bỗng tây xa, bắc trở trong dạ luống những khát khao

   Đau đớn thay bể thẳm trời cao, nông nỗi ấy càng thương càng nhớ

   Nay nhân việc thông đường (hoặc huyên đường) quyên cố lễ ngu yên vị.

   Gọi là dám xin tổ tiên gần xa đồng lai chứng giám, phù hộ toàn gia trẻ già yên ổn!

                                                                                                            Thượng hưởng!”

   2) CÚNG TUẦN 49 & 100 NGÀY.

– Tuần 49 ngày gọi là cúng “chung thấtchung_that ”. Người ta lấy vía đàn ông để tính. Một vía là 7 ngày, bảy vía là 49 ngày. Cúng ở nhà tuần này nhằm làm cho linh hồn người mất được mát mẻ.

Một số người theo đạo Phật và một số nhà muốn “Quy quy” người mất về chùa, nương nhờ cửa Phật “ăn mày lộc Phật”! Nên thường nhờ nhà sư làm tại chùa trong tuần 49 ngày, cho linh hồn chóng được siêu thăng tịnh độ.

– Cúng 100 ngày còn gọi là Tốt khốc – tot_khoc– Thôi khóc. Ngày trước thường khóc trong vòng ba tháng mười ngày.

Phật giáo cho rằng người chết xuống âm phủ phải qua “Thập điện –thap_dien – Mười cửa ải” vô cùng nguy hiểm. Vòng 49 ngày mới qua 7 cửa ải. Qua vòng 100 ngày mới xong 10 cửa ải, từ đây linh hồn mới siêu thoát hoàn toàn. Con cháu không khóc nữa, thực sự “yên tâm” người khuất núi đã thoát hiểm!

Tùy theo tục từng địa phương, có nơi coi cúng 49 ngày là lễ lớn, có nơi lại coi cúng 100 ngày mới là lễ lớn. Dịp này, nội ngoại đến dự lễ, bà con cộng đồng đều có lễ đến thắp hương. Chủ nhà thường mời quan khách bữa cơm thân mật.

   3) THỜI GIAN ĐỂ TANG

Việc để tang ở nước ta trước đây theo Thọ Mai Gia Lễ, phân làm hai loại: đại tangtiểu tang. Tiểu tang có 4 bậc, đại tang chỉ có 1 bậc. Tất cả có 5 bậc, gọi là ngũ phục.

   1.) Đại tang:

Thời gian để đại tang là 3 năm, nhưng trên thực tế người ta chỉ để đại tang có 27 tháng. Điều này chưa có lời giải thích, theo chúng tôi có lẽ người ta lấy thời gian mang thai 9 tháng để tính một năm. Như vậy ba năm là 27 tháng! Trong dân gian vẫn có câu vợ khóc chồng:

   “Ba năm hai bảy tháng chàng ơi!”

Hồ Xuân Hương khóc ông Phủ Vĩnh Tường với hai câu thơ còn lưu mãi:

   “Hai bảy tháng trời là mấy chốc,

   Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!”

Những người chịu đại tang gồm có:

– Con để tang cha mẹ ruột và cha mẹ nuôi,

– Nàng dâu để tang cha mẹ chồng,

– Vợ để tang chồng,

– Cháu đích tôn thừa trọng (thay cha khi cha mất) để tang ông bà,

– Chắt thừa trọng (thay cha và ông khi cha và ông đều mất) để tang cụ ông cụ bà.

   2.) Tiểu tang:

Theo tục lệ, tiểu tang có bốn bậc khác nhau và thời gian để tiểu tang cũng khác nhau, tùy theo thân hay sơ.

a.) Cơ niên: Để tang một năm. Những người để tang một năm gồm :

– Cha mẹ để tang cho con trai, con dâu trưởng, và con gái (chưa đi lấy chồng).

– Chồng để tang cho vợ.

– Con rể để tang cho cha mẹ vợ.

– Anh em và chị em (chưa đi lấy chồng) kể cả anh chị em cùng cha khác mẹ để tang cho nhau.

– Em để tang cho chị dâu trưởng.

– Cháu trai và cháu gái (chưa đi lấy chồng) để tang cho ông bà nội.

– Cháu để tang cho chú bác ruột và cô ruột (chưa đi lấy chồng).

– Cháu dâu để tang cho ông bà nhà chồng.

b.) Đại công: Để tang 9 tháng. Những người để tang 9 tháng gồm:

– Cha mẹ để tang con gái (đã đi lấy chồng) và con dâu thứ.

– Chị em ruột (đã đi lấy chồng) để tang cho nhau.

– Anh em con chú con bác ruột để tang cho nhau.

– Chị em con chú con bác ruột (chưa đi lấy chồng) để tang cho nhau.

c.) Tiểu công: Để tang 5 tháng. Những người để tang 5 tháng gồm:

– Anh chị em cùng mẹ khác cha để tang cho nhau.

– Chị em con chú con bác ruột (đã đi lấy chồng) để tang cho nhau.

– Con để tang cho dì ghẻ.

– Cháu để tang cho ông chú, bà bác, và bà thím.

– Cháu để tang cho bà cô (chưa đi lấy chồng), chú họ, bác họ, thím họ, cô họ (chưa đi lấy chồng), ông bà ngoại, cậu, và dì ruột.

– Chắt để tang cho cụ ông cụ bà bên nội.

d.) Ti ma: Để tang 3 tháng. Những người để tang 3 tháng gồm:

– Cha mẹ để tang cho con rể.

– Con cô con cậu và đôi con dì để tang cho nhau.

– Cháu để tang cho ông chú họ, ông bác họ, bà cô họ (chưa đi lấy chồng), bà cô (đã đi lấy chồng), và cụ cô (chưa đi lấy chồng).

– Chắt để tang cho cụ chú cụ bác.

– Chút để tang cho kỵ ông kỵ bà bên nội.

Việc tang của người Việt là do Lễ giáo Phong kiến quy định. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” chi phối rõ rệt, ví như thời gian vợ để tang chồng là 27 tháng, tức là đại tang. Chồng để tang vợ có một năm, chỉ được coi là tiểu tang mà thôi. Con gái đã đi lấy chồng thì bị coi là “nữ nhân ngoại tộc” và “dâu là con rể là khách” Người đàn bà, nếu đã đi lấy chồng khi mất đi, được thân nhân để tang một thời hạn ngắn hơn khi chết mà chưa có chồng.

Việc để tang của ta thể hiện một nền văn hóa lâu đời, có tôn ti trật tự, có phép tắc hẳn hoi, phân biệt thân sơ rõ ràng. Cần phải học hỏi và được giáo dục, mới biết và thực hiện đúng theo phong tục được. Nhìn vào việc con cái để tang ông bà hay cha mẹ, ta biết được gia đình đó có giáo dục theo nếp Việt hay không.

Ngày nay đồ tang phục chỉ được mặc cho đến khi chôn cất thân nhân xong. Sau đó, đeo một miếng vải đen nhỏ bằng đầu ngón tay cái ở nẹp áo trước ngực hay ở trên mũ. Còn đàn bà, đầu vấn khăn trắng (ở nông thôn) hoặc găm miếng vải đen ở trước ngực phía trái khi mặc áo. Điều cốt yếu là Tang tại Tâm!

   4) ĐỐT MÃ.

   Trần sao Âm vậy, nếp nghĩ này đã ăn sâu vào tiềm thức người ta từ bao đời nay. Người sống phải lo chu cấp cho người âm, những vật dụng sinh hoạt đầy đủ như khi còn sống mà người đó thường dùng. Nên mới có tục đốt mã.

Người chết sau rằm tháng bảy, thường đốt mã vào dịp 49 ngày. Người chết trước Rằm tháng bẩy, chưa đủ 49 ngày tính đến rằm tháng bẩy, thì đốt mã vào dịp Rằm tháng bẩy. Nhưng phải đốt trước ngày mồng 10 tháng bẩy. Còn ngày rằm chỉ đốt cho người chết đã hết tang và cúng cô hồn thôi.

Đốt mã là một tục, nhà nước ta vẫn cho kinh doanh hàng mã và đánh thuế hàng mã! Hà nội có hẳn một phố mang tên phố Hàng Mã, chỉ chuyên bán đồ hàng mã. Bây giờ nhiều phố khác cũng bán đồ hàng mã, vì nó là thứ hàng hóa siêu lợi nhuận!

Đốt mã là một việc nhạy cảm, không biết thế nào là “vừa”. Hiện nay nhiều nhà quá lạm dụng, lãng phí tiền của không cần thiết. Vấn đề là ở cái tâm của từng người. “Tâm động quỷ thần tri – Ta nghĩ gì, quỷ thần đều biết cả”. Báo hiếu cha mẹ đâu cứ mâm cao cỗ dầy, đốt mã xa hoa ?

   5) GIỖ ĐẦU.

Giỗ đầu còn gọi là Tiểu tường. Giỗ đầu, theo tục lệ cúng trước ngày chết một ngày. Qua một năm, có người đã siêu thoát, có người đã được đầu thai theo luật Nhân quả – Luân hồi của nhà Phật. Khi sống tu nhân tích đức tốt, sớm đầu thai vào nhà lành! Ăn ở có nhiều tội lỗi, sẽ đầu thai làm kiếp trâu ngựa để trả nợ! Nếu khi sống có nhiều tội ác, vẫn bị giam ở chín tầng địa ngục, bị lũ ngạ quỷ (ma đói) hành hạ liên tục ngày đêm!

Quan niệm trên là của của Phật giáo, xét ra có tính nhân văn cao; bóc vỏ mê tín ra, ta thấy nhà phật dạy con người phải biết làm điều thiện ngay ở cõi đời đang sống, đó mới là quả phúc tròn đầy!

Trước ngày giỗ hai ngày, con cháu ra dọn cỏ, đắp đất cho mộ phần cao ráo đẹp đẽ. Thắp hương cắm hoa, khấn trình mời hương hồn người đã khuất về hưởng lễ con cháu cúng. Rồi về nhà có trầu rượu chén nước, nén nhang thắp trình, gọi là cúng Tiên thường để hôm sau cúng giỗ chính thức.

Ngày trước sau giỗ đầu, tang chế giảm nhẹ đi; trừ bỏ đồ hung phục không còn mặc áo xổ gấu, sô gai…bỏ gậy mũ…Nhưng vẫn còn để tang cho hết ba năm.

   6 ) GIỖ HẾT TANG.

Giỗ này cúng vào năm thứ hai sau ngày mất. Từ giỗ thứ hai cúng đúng ngày mất. Gọi là Đại Tường.

Qua hai năm kể từ ngày mất, người chết đã siêu thoát hoàn toàn. Giỗ này con cháu cũng làm lễ đoạn tang – hết tang. Bởi vậy giỗ này còn gọi là Giỗ hết. Tuy vậy vẫn còn thêm ba tháng nữa mới được làm lễ Trừ phục – bỏ hết mọi đồ tang phục. Lễ này còn có tên khác là lễ Đàm tế (nỗi ưu sầu buồn đau).Nói là thời gian để đại tang 3 năm, nhưng sau 2 năm 24 tháng thêm ba tháng nữa là 27 tháng. Đại tang là 27 tháng, nên người vợ mới khóc chồng: “Ba năm hai bảy tháng chàng ơi!

Sau hai năm chọn một ngày tốt trong tháng thứ ba, để làm lễ Trừ phục (bỏ hết đồ tang). Trừ phục có ba việc làm sau:

– Lễ sửa mộ: Đắp thêm mộ phần to đẹp thêm.

– Lễ đàm tế: Cất khăn tang, hủy đốt các thứ thuộc phần lễ tang, thu các thứ đồ tang, bỏ bàn thờ để rước linh vị vào bàn thờ gia tiên.

– Rước bát hương vào bàn thờ gia tiên và cáo yết tổ tiên

Sau Lễ này, đốt bài vị giấy và đưa bát hương vào thờ chung ở bàn thờ Gia tiên, theo thế thứ mà sắp đặt. Có thể lấy 3 chân nhang cắm chung vào bát hương hội đồng ở bàn thờ gia tiên cũng được. Nếu ai chết cũng đưa bát hương vào bàn thờ, bát hương ngày càng nhiều, bàn thờ không có chỗ đặt. Bài vị phải làm bằng gỗ.

Mọi thứ câu đối trướng cũng thu dọn, có thể đốt hoặc chôn đi.

   7 ) CẢI TÁNG.

Cải táng – là bốc mộ. Còn có nhiều tên gọi khác như: sang cát, cải cát, sang tiểu, thay áo, cát táng (chôn lần đầu gọi là hung táng)…

Bốc mộ là một việc trọng đại cuối cùng đối với người đã khuất. Tùy đất táng và tuổi người mất mà chọn thời gian bốc mộ. Nhưng ít nhất cũng trên ba năm, mới đủ thời gian phân hủy xác. Lúc này chỉ còn xương. Thời gian bốc mộ thường là cuối mùa đông, tiết trời khô ráo hanh heo là đẹp.

Sở dĩ phải bốc mộ vì quan tài gỗ lâu ngày sẽ mục, ván thiên sập xuống. Hoặc là khi chết chưa tìm được nơi đất đẹp! Con cháu không yên lòng. Bốc mộ để vĩnh viễn quy về một nơi, xây ốp trang trọng cho thỏa lòng con cháu.

Một số nơi từ nam miền trung trở vào không có tục bốc mộ, chỉ chôn một lần. Nhà có điều kiện làm trong quan ngoài quách và xây ốp vĩnh cửu luôn. Bây giờ đã bắt đầu quen dần với việc hỏa táng, điện táng. Một cách thức xử lý xác người chết hợp vệ sinh, không ô nhiễm môi trường, không tốn diện tích đất đai.

Trước khi bốc mộ, làm lễ cáo yết Gia tiên và cúng thần Thổ thần nơi nghĩa địa. Người ta thường bốc mộ vào ban đêm. Do quan niệm ban đêm thuộc âm, là thế giới của âm phủ. Điều này rất phiền toái cho công việc. Tuy vậy mọi người đều không quản ngại, ai cũng dốc sức cho công việc xong trước 5 giờ sáng. Cũng có nơi làm ban ngày, nhưng phải có mái che không cho ánh sáng mặt trời chiếu vào.

Khi mở nắp quan tài, mọi người đứng đầu chiều gió. Có thể đốt những bó chổi bằng cây hao hao và đổ rượu vào quan tài. Mục đích là giảm bớt xú khí. Xương cốt rửa sạch, lau khô xếp vào tiểu theo đúng vị trí. Trong tiểu lót giấy trang kim và vải đỏ hoặc lụa đỏ. Đem tiểu đến nơi khác chôn và xây cất, ốp lát tùy điều kiện từng nhà. Lấy nước vang tưới xung quanh gọi là hàn long mạch – ý nói hàn kín mạch đất vĩnh viễn.

Ngày trước bắt buộc con cháu phải trực tiếp lấy cốt, không được để người ngoài làm, như vậy mới thực là báo hiếu! Bây giờ có thể vận dụng hợp lý, không nhất thiết phải làm như xưa.

Trước đây chưa có điều kiện xây ốp. Vào nghĩa địa thấy ngôi mộ dài là chưa bốc. Ngôi mộ tròn là đã bốc.

Khi bốc mộ, nếu gặp mộ “kết” thì phải lấp ngay lại. Ở Nghệ Tĩnh thường có chõ xôi mang theo, nếu thấy mộ kết thì bỏ xôi vào, đóng nắp quan tài và đắp mộ to lên.

Mộ “kết” là mộ có một trong ba biểu hiện sau:

– Khi đào đất thấy có con rắn vàng gọi là “long xà khí vật” là điềm tốt.

– Khi mở nắp quan tài có mạng như giây tơ hồng phủ trắng cả áo quan.

– Xương cốt dính liền, không rời nhau và có những giọt nước trắng như sữa.

Chưa bốc mộ cho ông bà cha mẹ, con cháu luôn coi mình chưa làm xong việc báo hiếu. Bây giờ có điều kiện kinh tế, phần lớn bốc mộ quy tập về một nơi, xây ốp khang trang đẹp đẽ, quần tụ trong nội tộc có ông bà tổ tiên ở bên cạnh, như được sum họp ấm áp tình cảm gia đình luôn có bên n

Chương III: ĐÔI ĐIỀU BÀN THÊM

   1) ÁP DỤNG THỌ MAI GIA LỄ NHƯ THẾ NÀO?

   Sách Thọ Mai Gia Lễ – tho_mai_gia_lelà của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tân (1690 – 1760) viết. Tên hiệu của ông là Thọ Mai. Nội dung của Thọ Mai Gia Lễ là những quy định về Lễ nghĩa trong gia đình đối với việc tang chế và cưới xin.

   Tư tưởng chủ đạo cuốn sách là của Nho giáo phong kiến. Ngay từ thời tiên Tần, chế độ phong kiến Trung Hoa rất coi trọng lễ nghĩa. Các bộ sách Tứ thư, Ngũ kinh, quy định rất chặt chẽ mọi mối quan hệ trong xã hội.

   Trong Ngũ kinh có hẳn một Kinh Lễ, quy định mọi Lễ nghĩa từ trên xuống dưới, trong gia đình và ngoài xã hội. Ông vua nhà Chu là Chu Văn Vương (còn gọi là Chu Công, cũng là người viết phần Thoán từ của Kinh Dịch) đã viết cuốn “Chu Văn Công Gia Lễchu_van_cong_gia_le ”. Sách này được truyền sang nước ta từ rất sớm, khi phong kiến Trung quốc thống trị nước ta.

   Quá trình thực hiện, chúng ta đã vận dụng cho hợp với người Việt nam. Người đầu tiên soạn Gia Lễ riêng cho người Việt nam là Thượng thư Hồ Sĩ Dương. Ông người Quỳnh lưu (Nghệ an) đỗ tiến sĩ năm 1652 làm quan đến chức Thượng thư. Cuốn Gia lễ do ông viết có tên là: “Hồ Thượng thư Gia Lễho_thuong_thu_gia_le ”. Sau này trên cơ sở cuốn sách trên, tiến sĩ Hồ Sĩ Tân cũng là người Quỳnh lưu, đã san định lại thành “Thọ Mai Gia Lễ tho_mai_gia_le

   Từ khi ra đời đến nay đã gần 400 năm, cuốn sách luôn được coi là một “cẩm nang” chủ yếu để thực hiện việc Tang. Người đã đọc cũng như người chưa đọc, mỗi khi nói về việc tang đều nhắc đến “Thọ Mai Gia Lễ”. Vậy điều gì làm cho cuốn sách có sức sống mạnh mẽ đến như vậy? Theo chúng tôi có mấy lý do sau:

   – Thọ Mai Gia Lễ đã chọn lọc những gì phù hợp với tâm lý, lối sống của người Việt. Thể hiện tính tự chủ của dân tộc, một bản sắc riêng phù hợp với lối sống, phong tục tập quán của người Việt nam.

   Sự kết hợp giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo trong tang lễ, đan xen và không loại trừ nhau. Một biểu hiện của Tam giáo đồng nguyên. Điều này ảnh hưởng nhiều trong cuộc sống của chúng ta ngày nay khá đậm nét, như việc chọn ngày, xem giờ, đi chùa lễ phật, cúng ông bà… đều có trong mỗi người, nặng nhẹ mức độ khác nhau. Ngay cả các vị chức sắc bây giờ, từ to đến nhỏ, không ai nói ra nhưng vẫn lặng lẽ làm, hoặc bật đèn xanh cho vợ con làm.

   Trong Tang lễ, việc báo hiếu là của Nho giáo, các hình thức gọi hồn, phạt mộc…là của Đạo giáo, cầu siêu quy về chùa…là của Phật giáo. Đây là một hiện tượng khá độc đáo.

   – Ý thức hệ phong kiến đã ăn sâu bén rễ trong nếp nghĩ, trở thành một lối sống của người Việt. Trật tự “Quân, Sư, Phụ – Vua – Thầy học – Cha” khá bền vững. Trung với nước, thực chất là trung với vua. Ta vẫn thường nghe: “Trung quân ái quốc ”. Hiếu thuận với Thầy học và cha mẹ là một đạo lý bắt buộc ai cũng phải có.

   Trong gia tộc, chữ “Hiếu – hieu” là nền tảng của chế độ gia trưởng. Các thành viên phải răm rắp tuân theo ý kiến của tộc trưởng và của người cha. Thực hiện chu đáo trong Tang lễ là việc báo hiếu của con cái. Một tiêu chí để cộng đồng xem xét và đánh giá, nên ai cũng coi trọng.

   Đối với đất nước, “Trung Hiếu” là nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến, nhằm củng cố sự tập trung quyền lực vào ngôi chí tôn. Quần thần và thứ dân phải trung quân tuyệt đối. Điều này dẫn đến tình trạng ngu trung là tất yếu “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung –quan_xu_than_tu Vua xử thần chết. Thần không chết. Là không trung!”. Vua muốn giết ai thì nói: “Ta ban cho chén thuốc độc, thanh kiếm hoặc giải lụa !!!”

   Thọ Mai Gia Lễ vẫn còn sức sống và tồn tại lâu dài, vì tinh thần cơ bản của nó góp phần duy trì chữ “Hiếu” chữ “Trung” từ trong gia đình đến xã hội.

   Với tinh thần gạn đục khơi trong, ta kiên quyết loại bỏ những điều hủ tục, phiền toái không cần thiết. Phương châm là “bình cũ rượu mới” đưa vào Thọ Mai những nội dung của thời đại. Tất cả các bước từ khi có người chết đến khi cải táng, cơ bản là không thay đổi, nhưng hiện đã mang một nội dung mới hoàn toàn. Ví như một cuộc hành lễ, không còn các thủ tục đông xướng tây xướng, không ai đặt linh sàng kết hồn bạch nữa…đưa tang không ai lăn đường, chống gậy cũng đã giảm nhiều…Việc để tang cũng đơn giản đi, chỉ cần một băng đen đeo trên ngực…Hiếu tại tâm chứ đâu phải nằm đất, áo sô xổ gấu, khăn trắng thường xuyên mới là có hiếu.

   2) VIỆC XEM NGÀY CHỌN GIỜ TRONG TANG LỄ.

   Nhân dân ta có thói quen, bất kể làm việc gì cũng xem ngày, giờ, tháng, năm tốt hay xấu; đối với công việc của từng người. Đã có nhiều ý kiến xung quanh việc này. Đúng sai chưa có một lời giải thỏa đáng. Có trường hợp xem ra đúng! Nhưng không hiếm những trường hợp sai. Bảo rằng bỏ hẳn đi, không dễ đã được chấp nhận. Quả là lưỡng nan khó giải!

   Chẳng qua cũng chỉ là một phép giải tâm lý, nhằm làm an lòng con người mà thôi. Có điều là, không nên quá câu nệ, phụ thuộc mù quáng và máy móc, dễ tạo tâm lý bất ổn và công việc lại càng không suôn sẻ.

   Hiện tại việc xem ngày, chọn giờ trong đám tang, không ai bỏ qua. Sau khi có người chết, hầu như nhà nào cũng mời thầy cúng xem giờ liệm, nhập quan, phát tang và ngày giờ chôn cất. Nếu cứ chờ ngày giờ đẹp phải đợi lâu, trong khi sau 24 tiếng, xác đã bắt đầu phân hủy, liệu có nên chăng? Chưa biết an lành ra sao, chỉ thấy môi trường bị ô nhiễm. Và nếu là bệnh truyền nhiễm, thì nguy hại biết chừng nào.

   Ai cũng biết rằng không có một ngày hoàn toàn tốt, hay hoàn toàn xấu. Tốt xấu đan xen như cuộc sống hàng ngày đang diễn ra vậy. Một ngày xấu việc này, nhưng lại tốt cho việc kia. Trong một ngày 12 giờ (tính giờ âm lịch) thì ít nhất cũng có 4 đến 5 giờ tốt.
Trong nhân dân vẫn lo ngại Thần Trùng, khi có người chết. Cần hiểu căn nguyên từ này. “Thần –than vì sao”. “Trùng –trung Lặp lại”. Như vậy có nghĩa là người chết vào cùng một ngày, một giờ, một tháng, một năm xung với Tam hợp sẽ có nhiều sao xấu chiếu, gọi là “Trùng tang liên táng-trung_tang_lien_tang ”. Trường hợp này xét ra hiếm gặp. Xem bảng sau:

   Bảng trùng tang liên táng

Tuổi người chết Năm chết Tháng chết Ngày chết Giờ chết
Thân – Tý – Thìn Tỵ Tỵ

(Tháng 4)

Tỵ Tỵ
Tỵ – Dậu – Sửu Dần Dần

(Tháng Giêng)

Dần Dần
Dần – Ngọ – Tuất Hợi Hợi

(Tháng 10)

Hợi Hợi
Mùi – Mão – Hợi Thân Thân

(Tháng 7)

Hợi Hợi

    Rất ít khi xẩy ra trường hợp người chết rơi vào cả bốn thời điểm ngày, giờ, tháng, năm vào một chi như vậy. Chỉ phạm vào một hai mà thôi.

   Nếu gặp ngày giờ xấu, từ trước cũng đã có biện pháp hóa giải rồi. Ví như việc bỏ bộ bài hay con dao vào quan tài để trừ tà. Xét ra cũng chẳng ảnh hưởng gì tới mọi người.

   Cần tránh việc mời pháp sư lập đàn làm chay, để nhờ Thần Phật cứu hộ cho vong linh người chết. Nhất là khi có người chết oan hoặc chết bất đắc kỳ tử. Làm chay là việc dung hợp hai nghi thức của Phật giáo và Đạo giáo. Hiện nay vẫn còn không ít nhà làm việc này. Người ta thường lập đàn cúng tế ở chùa hoặc tại nhà, tốn kém hàng chục triệu đồng. Đây là việc không nên làm!

   3) TÌM HƯỚNG ĐẶT MỘ.

   Mỗi năm có một hướng đại cát – hướng tốt khác nhau. Phương hướng này được xác định theo Hậu thiên bát quái của Kinh Dịch, khác với việc chọn hướng làm nhà. Hướng nhà phụ thuộc vào niên mệnh và cung bát quái của từng người. (tìm hiểu phần Phong thủy)

hau_thien_bat_quai

   Căn cứ theo phương pháp Cửu tinh – chín sao để chọn hướng của năm. Cửu tinh là một thuật toán cổ, dựa trên cơ sở Lạc thư của Dịch, tức là trên hình vuông ma phương có 9 số đếm, từ 1 đến 9.

   Hình Lạc thư, còn gọi là hình ma phương (xem hình vuông dưới)

ma_phuong

   Quy định: Hướng Bắc phía dưới. Hướng Nam phía trên. Hướng Đông bên trái. Hướng Tây bên phải. Nhớ điều này để khi nhìn hình chọn hướng.

   Chín số này được thể hiện trên bảy mầu là:

   1– Nhất bạch: Màu trắng, hành Thủy, quẻ Khảm,: Đại cát.

   2- Nhị hắc: Màu đen, hành Thổ , quẻ Khôn: Hung

   3- Tam bích: Màu biếc, hành Mộc, quẻ Chấn: Hung

   4- Tứ lục: Màu xanh lục, hành Mộc, quẻ Tốn: Hung

   5- Ngũ hoàng: Màu vàng, Trung cung: Đại hung (xấu nhất)

   6– Lục bạch: Màu trắng, hành Kim, quẻ Càn: Đại cát

   7- Thất xích: Màu đỏ, hành Kim, quẻ Đoài: Hung

   8– Bát bạch: Màu trắng, hành Thổ, quẻ Cấn: Đại cát.

   9– Cửu tử: Màu tía, hành Hỏa, quẻ Ly: Đại cát

   Như vậy trong 9 số chỉ có các số 1, 6, 8, 9 là đại cát. Năm số khác còn lại là xấu.

   Lấy hình Lạc thư trên để quy chuẩn, thì Ngũ hoàng ở Trung cung (giữa). Năm có Ngũ hoàng ở trung cung (năm 2004), các hướng tốt sẽ là;

   – Số 1 (nhất bạch): chính Bắc: Đại cát.

   – Số 8 (Bát bạch): Đông Bắc: Đại cát

   – Số 6 (Lục bạch): Tây bắc: Đại cát

   – Số 9 (Cửu tử): Chính Nam: Đại cát

   Trong chín số sự vận hành, mỗi năm có một số vào Trung cung, theo một quy luật xoay theo chiều ngược kim đồng hồ. Quy luật này đã được tính (không cần thiết nêu quy luật ở đây). Nếu bắt đầu từ số 5 ở Trung cung. Vòng quay số ở trung cung sẽ là:
5 => 4 => 3 => 2 => 1 => 9 => 8 => 7 => 6 => 5 …

   Sau đây là vòng quay của 9 số có chuyển đổi vị trí:

vong_quay_chin_so

   Quan sát các hình trên ta thấy, vòng quay số ở trung cung hết lượt thứ 9 lại về số 1. Theo tính toán, năm 2004 Ngũ hoàng vào Trung cung. Như vậy hướng của năm 2013 giống hệt như hướng năm 2004. Hướng của năm 2014 giống như hướng năm 2005…

   Năm 2014 Hướng tốt là: Nam (8), Bắc (9), Tây (6) và Tây Nam (1).

   Nắm quy luật này, ta tính ra các hướng của những năm tiếp theo. Như vậy việc tìm hướng tốt để xuất hành và đặt mộ trong năm không có gì khó khăn nữa.

   Nhớ bốn hướng tốt là: 1, 6, 8, 9.

   4) ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẾT Ở NGOÀI NHÀ MÌNH.

   Hiện nay người chết ở ngoài nhà mình ở, không phải là ít. Người ốm đau qua đời ở bệnh viện, người bị tai nạn rủi ro trong giao thông, người chết vì thiên tai sét đánh, lụt lội, lở núi đất sụp, tai nạn lao động v.v…; ấy là chưa nói đến các liệt sĩ trận vong nơi sa trường, trong luyện tập và công tác cứu giúp đồng bào qua cơn hiểm nguy, hy sinh vì sự nghiệp cao cả của dân tộc…

   Việc giải quyết những trường hợp trên, vẫn còn những quan niệm khác nhau chưa thống nhất. Trước đây cho rằng những trường hợp trên là “vô phúc”. Chẳng thế mà vẫn còn đó những lời chửi rủa: “Nhà mày vô phúc là quân chết đường, chết chợ”.

   Do quan niệm vậy, nên đã có cách giải quyết chưa thỏa đáng. Nhiều trường hợp không được đưa xác vào nhà làm các thủ tục tang lễ. Cho rằng đưa vào nhà thì lũ ma, lũ cô hồn ở ngoài sẽ nhân dịp vào theo!!!

   Nhiều đám đưa thẳng ra nghĩa địa chôn ngay. Có đám dựng rạp, làm ma ngoài đường…Trông cảnh ấy, tự đáy lòng, ai cũng ngậm ngùi, xót xa thương cảm.

   Nếu phải chết, ai chẳng muốn chết tại nhà mình. Nơi ta đã gắn bó đời mình, với những người ruột thịt thân yêu; nơi có bao nhiêu kỷ niệm từng nếm trải bao đắng cay ngọt bùi. Nhưng vì những điều bất khả kháng, không thoát khỏi cảnh phải chết ở ngoài.

   Những người thân vô cùng đau đớn về sự mất mát to lớn, không sao khỏa lấp ấy. Nhưng nỗi đau ấy càng đau hơn, càng lớn hơn, khi chính họ không vượt qua được một quan niệm cũ, để người thân của mình không được “vào nhà”.

   Không được chết ở nhà mình, đã là một thiệt thòi lớn; thiệt thòi ấy càng lớn hơn, càng xót sa hơn, khi lại bị chính những người thân, vì một quan niệm cổ hủ không cho “vào nhà!”. Linh hồn họ phải vật vờ cô đơn lạnh lẽo ở ngoài đường!!!

   Xã hội ngày càng tiến bộ, những quan niệm cũ không thỏa đáng, cũng phải xét đoán lại. Thay đổi một nếp nghĩ, một quan niệm cũ cho phù hợp với thời đại, là biểu hiện của sự “thức thời”, tránh được sự bảo thủ, cổ hủ lạc hậu, thiếu tình người!.

   Mọi trường hợp chết ở ngoài cần được đưa về nhà mình, tổ chức tang lễ chu đáo như thường lệ. Việc làm ấy, phù hợp với tính nhân văn cao đẹp của dân tộc Việt nam.

   5) TÍNH TUỔI THỌ NHƯ THẾ NÀO?

   Cha ông ta từ xưa mừng thọ và tính tuổi thọ theo tuổi Âm lịch. Tục lệ ấy có thay đổi từ ngày cách mạng thành công, tính tuổi theo ngày sinh dương lịch. Nhưng cách tính ấy xem ra thiếu tính thuyết phục, nó trái với tập tục cổ truyền.

   Bởi vậy, bây giờ chúng ta lại trở về với nguyên tục cũ. Kể cả các nguyên thủ quốc gia, các bậc “đại thần” khi mừng thọ và tính tuổi thọ vẫn tính như vậy. Đây là một đoạn tin:

   “Trong dịp sinh nhật tuổi 99 (25/8/1911 – 25/8/2009), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và gia đình đã tiếp đón rất nhiều đoàn đại biểu, người thân… đến thăm và gửi lời chúc mừng.” (Báo Dân trí).

   Nếu tính theo năm Dương lịch, đại tướng mới có 98 tuổi. Nhưng tính theo năm Âm lịch, đại tướng đã 99 tuổi.

   Cách tính này so với cách tính dương lịch chênh nhau một tuổi. Liệu có phải người ta muốn “tham ô, tham nhũng!” để tăng được thêm tuổi thọ? Nếu nghĩ vậy thì quá vội vàng và chưa thấu hiểu căn nguyên vì sao ông bà ta từ xa xưa đã tính thế.

   Thực ra, cơ sở của việc tính tuổi này là căn cứ vào thời điểm thụ thai. Người xưa quan niệm: tinh cha huyết mẹ khi kết lại, đã hình thành một thiên thần nhỏ bé, một sinh linh đã tồn tại trong cõi dương thế. Một sự sống ban đầu hình thành, đã đang và sẽ trưởng thành, rồi có mặt trong vũ trụ bao la này. Sinh linh ấy, có quyền sống và tồn tại ngay từ lúc ban đầu khởi thủy.

   Không lý gì, sinh linh ấy lại bị thiệt thòi không được tính trong thời gian mang nặng đẻ đau sau chín tháng mười ngày?!

   Một quan niệm mang tính triết lý sống của người Phương Đông và của người Việt nam. Thoát ly nhận thức này, là thoát ly căn nguyên nguồn cội; chẳng khác nào một con chiên lạc loài bị cộng đồng chối bỏ!

   Ngày nay nhờ khoa học phát triển, người ta còn biết được sự cảm nhận của thai nhi đối với cuộc sống bên ngoài. Tình cảm “ái, ố, hỉ, nộ –ai_o_hy_no – yêu mến, ghét bỏ, vui mừng, giận dữ” của người mẹ đều có ảnh hưởng đến thai nhi khá nhiều. Chính vì thế những người mang thai, luôn tạo cho mình một cuộc sống “an lạc – yên vui” . Nghe những khúc nhạc êm dịu du dương, sống hiền thục, nhu thuận với mọi người…

   Trước đây có câu: “Nuôi con ngoài, ai hoài hơi nuôi con trong”. Nghĩa là bào thai đã là con ở trong rồi. Sau khi sinh nở, mới tập trung mọi khả năng nuôi con, không ai bồi dưỡng “nuôi” con trong thai, vì sợ thai lớn khó sinh. Thông cảm cho nhận thức của một thời, khi khoa học còn ở mức độ. Bây giờ vẫn “nuôi” con trong đủ chất. Nếu thai lớn khó sinh, đã có phương pháp phẫu thuật vừa nhanh gọn, an toàn và lại không đau!

   Nói vậy đủ biết, “con trong” đã có một vị trí trong cuộc sống, ngay từ thuở mới tượng hình. Không lý gì mà không được tính tuổi cho đúng.

   Vẫn còn có người tính tuổi thọ theo cách tính dương lịch. Họ nhầm lẫn tuổi kê khai công tác và tuổi về hưu. Điều này cũng đã xẩy ra tình trạng khi mừng thọ một người, lại có tới hai lần mừng cho một tuổi. Người được mừng thọ, chỉ treo bảng mừng thọ được tính theo tuổi âm lịch mà thôi.

   Cũng nên hiểu rằng không ai tham ô, tham nhũng gì thêm một tuổi để được mừng hai lần cho một tuổi. Vào trường hợp này người ta chỉ thấy khó xử. Và chắc rằng khi nhắm mắt xuôi tay, bạn bè thân hữu và người đời vẫn nghe vang lên bài điếu văn Người đã ra đi ở tuổi trời cho…

   Trời cho ta chỉ biết nhận. Sự công minh sòng phẳng của đất trời, không thêm cho ai và cũng không bớt của ai, dù là một giây đồng hồ trong khoảng thời gian sống của họ! Đó cũng là sự công bằng tuyệt đối trên thế gian này.

   Chỉ có THỜI GIAN là công bằng tuyệt đối cho tất cả mọi người. Mọi chủ thuyết và những lời hoa mỹ về một sự CÔNG BẰNG chỉ là liều thuốc an thần, để rồi chính chúng ta là những kẻ nhẹ dạ, lại dễ tin. Bi kịch của loài người là ở chỗ này!

   Xin nguyện cầu cho linh hồn những người đã khuất được an lành nơi cực lạc!

Tang lễ là việc của người sống, làm cho người sống là chính. Mặt khác, cũng là sự báo hiếu của người sống đối với người đã ra đi. Ai cũng muốn báo hiếu cho cha mẹ, ông bà thực sự chu đáo và trọn vẹn. Đó là sở nguyện chính đáng và rất trân trọng.

   Người xưa dạy: “Bách hạnh hiếu vi tiên – bach_hach_hieu_vi_tien– chữ hiếu đứng đầu trăm nết”, ông cha ta rất coi trọng chữ hiếu. Chữ hiếu là nền tảng của trật tự xã hội, mọi người đều hành xử theo chữ hiếu.

   Đã một thời chúng ta ngộ nhận chữ hiếu là của phong kiến, cần phải “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Hậu quả là chúng ta phải gánh chịu loạn từ trong nhà loạn ra, thậm chí có chỗ thành họ nhà tôm!

   Trong tang lễ, quan trọng nhất là tang cha mẹ. Báo hiếu cho cha mẹ, ai chẳng muốn hết lòng hết sức! Người ra đi đã về cõi vĩnh hằng, đâu có bắt con cháu ở phàm trần phải bầy đặt những điều phiền toái và tốn kém không cần thiết. Hiếu cốt ở lòng mình, thực sự chân thành, kính trọng ông bà cha mẹ. Hãy xử sự chu toàn, trọn vẹn, ấm cúng và chan hòa ngay từ khi cha mẹ, ông bà còn sống bên con cái chúng ta. Đó mới là chữ Hiếu lớn nhất.

   Bởi vậy, việc thực hành tang lễ, cần có sự tiết chế hợp lý. Đảm bảo đủ các bước, với tinh thần tiếp thu vốn cổ có chọn lọc. Như thế, đám tang vừa mang tính dân tộc truyền thống, lại có sự kết hợp hài hòa nội dung văn hóa mới, góp phần xây dựng đời sống Văn hóa ở cộng đồng ngày càng tốt đẹp hơn.

   HẾT

 

 


Trang 1/Tổng số 11

Bài viết cùng chuyên mục :

Xem thêm

Ảnh hưởng văn hóa phương Đông trong đời sống người Việt

Thuật ngữ phương Đông cho đến nay vẫn là đề tài gây tranh luận. Xuất phát …