Trang chủ / Tư liệu / Những điều nên biết / Những điều cần biết về Hôn nhân – Cưới hỏi

Những điều cần biết về Hôn nhân – Cưới hỏi

MỞ ĐẦU

    Tình yêu đôi lứa chân chính, nồng cháy và đẹp đẽ bao nhiêu đi nữa, cuối cùng đều tới đích Hôn nhân và Cưới hỏi. Đó cũng là điều mong mỏi của các bậc cha mẹ. Sinh con ra, ai cũng muốn con cái có công ăn việc làm ổn định, trọn bề gia thất, gia đình hạnh phúc. Bởi vậy, ai cũng phải trải qua việc dựng vợ gả chồng cho con.

   Đây là một công việc tất yếu, là quy luật tự nhiên. Điều gì đến tất phải đến. Nhưng khi nó đến, một số ông bố bà mẹ lại lúng túng. Nhiều đêm lo nghĩ, con mình có hợp với người nó yêu? Hai tuổi ấy có xung khắc không? Rồi phải làm bao nhiêu lễ. Cách thức tiến hành ra sao? Quá trình trước, trong, sau khi cưới các bước phải làm những gì?

   Quy chế của Chính phủ ban hành ngày 25/11/2005 về thực hiện Nếp sống văn minh trong việc Cưới chỉ có ba điều, với 216 từ. Quy định một số điểm chung nhất. Chưa có một định hình cụ thể. Ví như quá trình có bao nhiêu lễ. Nội dung từng lễ là gì?

   Trong khi chúng ta chịu ảnh hưởng nhiều của Lễ giáo phong kiến. Có nội dung tốt, có nội dung không còn phù hợp nữa. Tiếp thu cái gì, bỏ cái gì. Cần cụ thể hóa từng chi tiết, từng việc phải làm. Làm sao đáp ứng với thời kỳ mới, nhưng vẫn giữ “đậm đà bản sắc dân tộc”.

   Trên tinh thần ấy, cuốn “Những điều cần biết về Hôn nhân và Cưới hỏi” viết dưới dạng cẩm nang gia đình, giới thiệu một số nội dung thật sự cần thiết, để các vị tham khảo; tùy hoàn cảnh, tùy phong tục tập quán từng nơi mà vận dụng cho thích hợp. Những điều nêu ra đây, không phải là khuôn mẫu; cũng chưa phải là chuẩn mực.

   Điều quan trọng là Hạnh phúc của con cái. Ta làm điều gì cũng vì Hạnh phúc của con cái. Vì thế không nên câu nệ cố chấp, yêu cầu đòi hỏi quá đáng.

   Cuốn sách này có 4 chương:

   Chương I & Chương II nói về cách xem tuổi, chọn ngày, giờ, tháng, năm trong hôn nhân và cưới hỏi.

   Nội dung này được tổng kết từ lâu đời. Đã có nhiều sách viết, nhưng chưa tập trung vào chủ đề Hôn nhân. Chúng tôi tham khảo, chọn lựa những điều liên quan tới Hôn nhân để bạn đọc dễ tìm hiểu.

   Chương III nói về các Lễ trong cưới hỏi. Vấn đề này hiện nay chưa thống nhất. Mỗi địa phương có biến thể riêng biệt.

   Ngày trước có 6 lễ. Bây giờ không cần Lễ Vấn danh. Để đảm bảo vẫn giữ được tính truyền thống, lại “đậm đà bản sắc dân tộc”. Theo chúng tôi vẫn giữ 5 Lễ còn lại. Nhưng để hợp lý, ngoài Lễ đầu tiên: Lễ chạm ngõ và Lễ cuối: Lễ đón dâu (Nghênh hôn) cần tách riêng ra. Còn lại ba Lễ: Ăn hỏi, Xin cưới, Nạp tài nên làm một lần, kết hợp ba Lễ làm một trong một buổi. Chung quy lại cũng chỉ ba lễ chính mà thôi.

   Để rộng đường trao đổi, chúng tôi viết Chương IV: “Đôi điều bàn thêm”. Đưa ra một số ý kiến chủ quan bàn về Hôn nhân, không tránh khỏi còn phiến diện. Kính mong bạn đọc tham gia thêm.

   Chúng tôi có tham khảo cách tổ chức cưới ở một số địa phương, trong các thời kỳ khác nhau, chọn ra những điểm chung nhất trong quá trình Cưới hỏi để giới thiệu.

   Vận dụng việc xem tuổi, không bắt buộc. Điều này có cơ sở từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Lịch Thiên Can Địa Chi cuả người Trung Hoa. Việt Nam đã vận dụng lập ra Âm Lịch của riêng ta, phù hợp với vị trí kinh tuyến và vĩ tuyến của Việt Nam. Chúng tôi chỉ giới thiệu những điều thật sự cần thiết để các vị xem và vận dụng.

   Việc tổ chức các Lễ, tùy điều kiện hoàn cảnh thực tế mà thực hiện. Có người vì thích “oách”, không chịu thua chị kém em, phô trương quá mức, tốn kém không cần thiết. Chưa kể có trường hợp vay mượn, để con phải “kéo cày trả nợ”.

   Lại có trường hợp áp dụng không hợp lý, đem cách thức ở thành phố về thực hiện ở vùng quê, nơi này đem sang nơi khác… bắt người ta phải thực hiện theo ý mình, nhiều khi thành kệch cỡm, gây phản cảm cho chủ sự và người tham dự ở vào thế khó xử.

   Kế thừa và tiếp thu cái cũ, trên tinh thần ứng sử cho phù hợp với thời đại. Đó là việc chúng tôi cố gắng giải quyết trong cuốn sách này.

    Chương I: XEM TUỔI TRONG HÔN NHÂN VÀ CƯỚI HỎI

   Vợ chồng sống có Hạnh phúc hay không, là phụ thuộc vào hai người có tâm đầu ý hợp trên mọi lĩnh vực. Từ xưa đã tổng kết, một trong những yếu tố làm cho vợ chồng tâm đầu ý hợp là tuổi của hai người có hợp nhau? Hợp nhau đến mức độ nào? Bởi vậy vấn đề xung, hợp tuổi của hai người luôn được coi trọng trước khi đi tới hôn nhân.

   Ngay việc tuyển lựa nhân sự, nhiều sếp cũng phải xem tuổi người được tuyển lựa, có hợp với tuổi của mình không? Điều này đúng hay sai, xin các vị xem xét và chiêm nghiệm.

   Căn cứ vào đâu để xem tuổi? Cơ sở là thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Lịch Can Chi. Chúng tôi trình bầy những điều cần thiết để quý vị vận dụng.

   I- THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

   1 – Âm và Dương

   Người Trung Hoa thời Thượng cổ, khi quan sát tự nhiên; thấy vũ trụ, mênh mênh mang mang vô cùng vô tận. Đó là thuở ban đầu sơ khai, ở trạng thái hỗn mang. Để tự giải thích, họ quan niệm đấy là Thái cực.

   Trong tự nhiên và vũ trụ, luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề, đi liền với nhau và bổ sung cho nhau: Trời và Đất, Phải và Trái, Đêm và Ngày, Sáng và Tối, Đực và Cái, Ngắn và Dài, Tốt và Xấu, Thiên thần và Quỷ dữ … Ngày nay trong Triết học ta gọi là các cặp phạm trù. Người xưa quan niệm đó là ÂmDương.

   Bởi vậy Âm và Dương không phải là vật chất, không gian hay thời gian cụ thể. Âm và Dương là thuộc tính của tất cả mọi thứ cụ thể và trừu tượng.

   Theo Dịch lý: Thái cực sinh Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng. Tứ Tượng sinh Bát Quái.

   – Lưỡng Nghi là khởi nguồn của Kinh Dịch, đó là Âm và Dương.

   Dương được ghi bằng một vạch liền (duong )

   Âm được ghi bằng hai vạch đứt đoạn (am )

   – Tứ tượng gồm:

   Thái dương: được ghi bằng hai vạch liền chồng lên nhau thaiduong

   Thiếu dương: được ghi bằng vạch liền ở dưới, vạch đứt ở trên thieuduong

   Thiếu âm: được ghi bằng vạch đứt ở dưới, vạch liền ở trên thieuam

   Thái âm: được ghi bằng hai vạch đứt chồng lên nhau thaiam

   – Bát quái là 8 quẻ:

batquai8que

   Vũ trụ mênh mang và tự nhiên vô cùng gọi là Thái cực. Thái cực sinh Lưỡng nghi. Lưỡng nghi là Âm và Dương. Như vậy Âm và Dương là hai mặt, mâu thuẫn nhưng lại thống nhất. Trong Âm có Dương và ngược lại trong Dương có Âm.

   Ví như Ngày và Đêm. Ngày là dương, Đêm là âm. Trong Ngày có Đêm, ấy là lúc hoàng hôn nhá nhem tối. Trong Đêm có ngày ấy là lúc bình minh rạng sáng.

   Thái cực và lưỡng nghi được thể hiện là một vòng tròn, chia làm hai phần bằng nhau. Đường chia hai phần bằng nhau, không phải là đường kính, mà là một đường cong hình chữ S ngược. Một bên tô mầu đen là Âm, có hình tròn nhỏ mầu trắng ở một góc. Một bên để trắng là Dương, có hình tròn nhỏ mầu đen ở một góc. Hai vòng tròn nhỏ ấy thể hiện: Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm

hinhthaicuc  

Hình Thái cực

   Âm Dương vận hóa theo quy luật thăng giáng. Âm thịnh thì Dương suy. Dương thịnh thì Âm suy. Quan trọng là phải tạo được thế Âm Dương cân bằng.

   Điều này rõ nét trong y học cổ truyền phương Đông. Cơ thể người ta cũng vậy, nếu Âm Dương rối loạn, không cân bằng sẽ gây nên bệnh tật. Các Thần y Phương Đông đã vận dụng rất tốt thuyết âm dương để chữa bệnh vô cùng hiệu qủa.

   Quan sát sự vận động của xã hội, của một gia đình và của một con người, ta cũng thấy điều này rất rõ.

   Không bao giờ có một chế độ xã hội hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu. Một gia đình thịnh suy hưng vượng có từng giai đoạn. Không ai giầu ba họ, không ai khó ba đời. Ngay trong một con người cũng vậy. Một người tốt, cũng có lúc xấu và ngược lại. Ta cứ tự xét ta thật sự nghiêm túc, cũng có nhiều khi ta xấu và thậm chí rất xấu. Bởi lẽ ta là Con Người. Phần Người trội, ta là người tốt. Phần Con trội, ta là kẻ xấu.

   Nhìn nhận như vậy giúp ta bình tĩnh, xem xét mọi sự vật. Tránh được sự bức súc không cần thiết, dễ làm cho thần kinh không ổn định, sinh bệnh tật. Đó là điều không nên. Hãy bình tâm, chấp nhận và tìm biện pháp khắc phục, chế ngự cái xấu. Nếu chẳng may, có cái xấu: Ta hạn chế nó và phải chấp nhận nó ở mức thấp nhất. Đó mới là cách giải quyết biện chứng và khoa học.

   2 – Ngũ Hành:

   ♣ Người cổ đại quan sát tự nhiên, thấy năm yếu tố thường gặp là: Đất, Nước, Lửa, Kim loại và Cây cối. Tiếng Trung quốc là: Thổ, Thủy, Hỏa, Kim, Mộc. Gọi đó là Ngũ Hành (Năm hành). Họ cho rằng năm yếu tố này sinh ra muôn vật; hoặc đều có trong mọi thứ tồn tại ở thế giới tự nhiên. Từ mầu sắc, Phương vị, Thời tiết, Mùi vị. Các phủ tạng trong cơ thể người. Các quẻ trong Kinh Dịch. Can Chi trong cách tính Âm lịch v.v…đều mang một Hành nhất định.

   BẢNG KẾT HỢP CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN THEO NGŨ HÀNH

bangkethop

   Ngũ Hành vận hóa theo luật tương sinh, tương khắc, và chế hóa lẫn nhau.

luattuongsinh

   ♣ Luật tương sinh:

   Tương sinh là cái sinh ra mình, mình lại sinh ra cái gì.

   – Nhờ có nước mà cây tốt tươi. Như vậy Thủy sinh Mộc

   – Nhờ có cây (củi) lửa mới cháy được. Như vậy Mộc sinh Hỏa.

   – Lửa cháy có tro than mới thành đất. Như vậy Hỏa sinh Thổ.

   – Trong lòng đất có chứa kim loại. Như vậy Thổ sinh Kim

   – Kim loại nung chảy lại thành nước. Như vậy Kim sinh Thủy.

   Tương sinh là một vòng tròn khép kín: Thủy sinh Mộc. Mộc sinh Hỏa. Hỏa sinh Thổ. Thổ sinh Kim. Kim sinh Thủy … Có thể xếp như sau: Thủy→Mộc→Hỏa→Thổ→Kim→Thủy…

   Hiểu đơn giản: Mẹ sinh Con, Con sinh Cháu, Cháu sinh Chắt…

   Mẹ sinh Con, Con được lợi, Mẹ hao tổn.

   Con sinh Cháu, Cháu được lợi, Con hao tổn.

   Nhớ điều này, vì cùng tương sinh; nhưng có cái được, có cái hao tổn. Sau này xét hai vợ chồng, hoặc hai cộng sự tuy tương sinh, nhưng ai là người có lợi hơn, là ở điều này.

   ♣ Luật tương khắc:

   Tương khắc là cái gì ức chế mình, hạn chế không cho mình phát triển (mình bị xung, ở thế yếu). Nhưng mình cũng hạn chế lại, không cho cái khác phát triển.(mình xung lại, ở thế mạnh).

   – Nước dập tắt lửa, như vậy Thủy khắc Hỏa.

   – Lửa cháy làm kim loại chảy, như vậy Hỏa khắc Kim.

   – Kim loại chặt đứt cây, như vậy Kim khắc Mộc.

   – Cây mọc đâm rễ xuống đất, như vậy Mộc khắc Thổ.

   – Đất ngăn chặn nước chảy, như vậy Thổ khắc Thủy.

   Xét Tương khắc phải chú ý: Cái gì khắc mình? Mình khắc cái gì? Cái khắc mình, tức là mình ở thế yếu. Mình khắc cái gì, tức là mình ở thế mạnh.

   Ví dụ: Thủy khắc Hỏa. Thủy ở thế mạnh, Hỏa ở thế yếu.

   Hỏa khắc Kim. Hỏa ở thế mạnh, Kim ở thế yếu.

   Như vậy cùng một Hành, chịu tương khắc nhưng lúc ở thế mạnh, lúc lại ở thế yếu. Xét mối quan hệ giữa hai người, phải chú ý mình ở thế mạnh hay người ta ở thế mạnh. Biết điều này để chọn giải pháp hợp lý và có cách ứng xử phù hợp, sẽ tránh được điều bất lợi và thiệt thòi cho bản thân.

   ♣ Luật chế hóa:

   Luật tương sinh, thể hiện sự vật luôn luôn phát triển ngày càng mạnh mẽ. Có như vậy vũ trụ và thế giới tự nhiên mới tồn tại ngày càng phồn thịnh.

   Nhưng sự vật không chỉ có phát triển. Nó cũng bị yếu đi, hạn chế hoặc bị tiêu diệt. Nếu không có điều này, sự vật và vũ trụ sẽ không cân bằng. Bởi vậy phải có sự hạn chế. Luật tương khắc, hạn chế sự phát triển vô độ.
Mối quan hệ giữa tương sinh, tương khắc như vậy gọi là Luật chế hóa.

   Luật chế hóa tạo thế cân bằng. Sau sự cân bằng lại có sự phát triển mới. Xã hội bao giờ cũng phát triển theo quy luật. Mỗi cuộc Cách mạng, phá bỏ cái lỗi thời, kế thừa mặt tốt, để tiến vào thời kỳ mới. Không có một chế độ xã hội bất biến, hết thịnh đến suy rồi hủy diệt, để cho một chế độ xã hội mới tiến bộ hơn xuất hiện. Có như vậy, xã hội loài người mới tiến bộ được.

   Đời người ta cũng vậy. Trong họa vẫn có mầm phúc, trong phúc vẫn có mầm họa. Gặp thời chớ nên tự đắc. Lỡ vận đừng vội buồn lòng. Câu chuyện “Ngựa tái Ông” đâu chỉ là bài giáo huấn đạo lý. Nó là chuyện thực tế đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta. Người xưa từng nói: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí – Phúc không lặp lại, họa đâu chỉ một lần”. Được phúc phải cẩn thận, đừng tự đắc mới giữ phúc được lâu. Gặp họa đừng thối chí, phải tu tâm dưỡng chí mới gặp được phúc vậy!

   Họa phúc khôn lường khó biết. Ta không nên lấy việc chỉ có một thời mà xét đoán cho là hay, hoặc là dở mãi mãi. Gặp phúc phải cẩn thận đừng tự đắc mới giữ phúc được lâu. Gặp họa đừng thối chí, phải tu tâm quyết chí mới gặp được phúc vậy!

   II- LỊCH CAN CHI – LỊCH ÂM

   Thuyết Âm Dương Ngũ Hành, là cơ sở làm lịch của người Trung hoa. Cách tính ngày, giờ, tháng, năm đều tuân theo quy luật này. Muốn xem tuổi phải biết về lịch này. Ta thường gọi là Âm lịch.

   Người Trung Hoa căn cứ vào vòng quay của mặt trăng quay quanh quả đất mà định tháng năm, gọi là Âm Lịch.

   Người Phương Tây căn cứ vào vòng quay của quả đất quay quanh mặt trời mà định tháng năm, gọi là Dương Lịch.

   Mặt trăng thuộc Âm, mặt trời thuộc Dương. Gọi là Âm Lịch, hay Dương Lịch là căn cứ vào điều này. Không nên hiểu từ Âm là âm phủ, hay địa ngục!

   1 – Trong Âm lịch tháng và ngày vừa đếm theo thứ tự số học, vừa có tên gọi theo lịch can chi. Còn lại năm và giờ có tên gọi theo Lịch Can Chi .

   Ví dụ: 9giờ30 Ngày 5 tháng 4 năm 2014. Chuyển đổi sang Âm lịch là: Giờ Quý Tỵ, ngày Bính Ngọ (Ngày 6), tháng Mậu Thìn (Tháng 3), năm Giáp Ngọ (2014).

   Căn cứ vào đâu để gọi như vậy? Đó là hệ đếm Can Chi trong Lịch Âm. đặt ra hệ đếm Can, Chi, với ba loại cơ số là: 10, 12 và 60.

   ♣ Loại cơ số 10 được gọi là Thập Can, gồm có: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Rồi quay trở lại Giáp …Cách gọi thông thường là mười can.

   ♣ Loại cơ số 12 được gọi là Thập nhị Chi, gồm có: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, (Miền Nam gọi Vị), Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Rồi quay trở lại Tý…Cách gọi thông thường là mười hai con giáp.
Sau đó ghép một Can với một Chi cho hết lượt, sẽ có 60 Can Chi không trùng nhau.

   Ví dụ: Can Giáp ghép với Chi Tý thành Giáp Tý, là Can Chi đầu tiên. Can Quý ghép với Chi Hợi thành Quý Hợi, là Can chi cuối cùng, tạo thành cơ số 60.

   ♣ Loại cơ số 60 là sự kết hợp giữa Thiên Can và Địa Chi, để đặt tên gọi cho từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ. Bắt đầu từ Giáp Tý, cuối cùng là Quý Hợi. Rồi quay trở lại Giáp Tý. Gọi là một vòng Hoa Giáp có 60 Can Chi.

   2 – Sự phối hợp Thiên Can, Địa Chi với Âm Dương Ngũ Hành.

   Xem bảng ở trang trước ta thấy Thiên Can, Địa Chi phối hợp với Ngũ Hành là:

   – Hành Mộc có: Giáp, Ất, Dần, Mão.

   – Hành Hỏa có: Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ.

   – Hành Thổ có: Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

   – Hành Kim có: Canh, Tân, Thân, Dậu.

   – Hành Thủy có: Nhâm, Quý, Tý, Hợi.

   Thiên Can chia làm hai loại như sau:

   – Thiên Can Dương gồm có: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.

   – Thiên Can Âm gồm có: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.

   Địa chi cũng chia làm hai loại như sau:

   – Địa Chi Dương gồm có: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.

   – Địa Chi Âm gồm có: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi(Vị), Dậu, Hợi.

   Can Dương kết hợp với Chi Dương thành năm, tháng, ngày, giờ Dương.

   Can Âm kết hợp với Chi Âm thành năm, tháng, ngày, giờ Âm.

   Trong Tử vi, người sinh năm dương là tuổi dương. Người sinh năm Âm là tuổi Âm.

   Ví dụ:

   – Người sinh năm Giáp Tý: Là Tuổi Dương Nam hoặc Tuổi Dương Nữ.

   Nam sinh năm Dương, Nữ sinh năm Âm là thuận. Lá số ấy thuận, mọi thứ sẽ phát triển thuận hơn.

   – Người sinh năm Ất Sửu: Là Tuổi Âm Nam hoặc Tuổi Âm Nữ.

   Nam sinh năm Âm, Nữ sinh năm Dương là nghịch lý. Lá số ấy nghịch, mọi thứ sẽ phát triển không thuận lắm.

   Một vòng Hoa Giáp 60 Can Chi, có 30 Can Chi Dương và 30 Can Chi Âm.

   Năm, Tháng, Ngày, Giờ đều có tên gọi theo vòng Hoa giáp, như một quy luật tuần hoàn vậy.

   + Sáu mươi năm bắt đầu từ Giáp Tý, cuối là Quý Hợi. Rồi trở lại Giáp Tý…..

   + Sáu mươi tháng cũng bắt đầu từ Giáp Tý như trên….

   + Sáu mươi ngày cũng bắt đầu từ Giáp Tý như trên….

   + Sáu mươi giờ cũng bắt đầu từ Giáp Tý như trên…

   3 – Bảng Lục thập hoa giáp:

lucthaphoagiap

   Quan sát bảng trên ta thấy:

   + Năm Can dương phối hợp 6 Chi dương, thành 6 Can Chi dương là:

   – Giáp có: Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất

   – Bính có: Bính Tý, Bính Dần, Bính Thìn, Bính Ngọ, Bính Thân, Bính Tuất.

   – Mậu có: Mậu Tý, Mậu Dần, Mậu Thìn, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Mậu Tuất.

   – Canh có: Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn, Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất.

   – Nhâm có: Nhâm Tý, Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất.

   + Năm Can Âm Phối hợp với 6 Chi Âm, thành 6 Can Chi Âm là:

   – Ất có: Ất Sửu, Ất Mão, Ất Tỵ, Ất Mùi, Ất Dậu, Ất Hợi

   – Đinh có: Đinh Sửu, Đinh Mão, Đinh Tỵ, Đinh Mùi, Đinh Dậu, Đinh Hợi.

   – Kỷ có: Kỷ Sửu, Kỷ Mão, Kỷ Tỵ, Kỷ Mùi, Kỷ Dậu, Kỷ Hợi.

   – Tân có: Tân Sửu, Tân Mão, Tân Tỵ, Tân Mùi, Tân Dậu, Tân Hợi.

   – Quý có: Quý Sửu, Quý Mão, Quý Tỵ, Quý Mùi, Quý Dậu, Quý Hợi.

   III – XEM TUỔI THEO NIÊN MỆNH NGŨ HÀNH

   Trước hết xem người đó sinh vào năm nào, thuộc Hành gì. Khi xem tuổi, điều ta quan tâm là: Hai tuổi ấy có xung khắc không? Xung khắc ở mức độ nào? Ai ở thế mạnh? Ai ở thế yếu? Có hợp nhau không? Ai hao tổn, ai được lợi?

   Xét Xung Khắc dựa vào Can và Chi, xung và hợp ở các vị trí nào.

   * Tương hợp hàng Chi. Có hai loại:

   – Nhị hợp (Hai Chi Hợp nhau, thành 6 cặp): Tý hợp Sửu. Dần hợp Hợi. Mão hợp Tuất. Thìn hợp Dậu. Tỵ hợp Thân. Ngọ hợp Mùi (Vị).

   – Tam hợp (Ba Chi hợp nhau):

   Thân – Tý – Thìn hợp nhau.

   Mùi – Mão – Hợi hợp nhau.

   Dần – Ngọ – Tuất hợp nhau.

   Tỵ – Dậu – Sửu hợp nhau.

* Tương xung hàng Chi. Có ba loại:

   + Nhị xung (Hai Chi xung nhau, thành 6 cặp) có:

   – Tý xung Ngọ. (Bắc, Nam – Thủy, Hỏa)

   – Mão xung Dậu. (Đông, Tây – Mộc, Kim)

   – Tỵ xung Hợi. (Hỏa – Thủy)

   – Dần xung Thân. (Mộc – Kim)

   – Thìn xung Tuất. (Đều Dương Thổ)

   – Sửu xung Mùi . (Đều Âm Thổ)

   +Tương hình: Cản trở lẫn nhau, có ba trường hợp: (Gọi là Tứ hành xung)

   – Tý – Ngọ – Mão – Dậu.

   – Dần – Thân – Tỵ – Hợi.

   – Thìn – Tuất – Sửu – Mùi.

   Nhiều người khi xem tuổi quá nặng về câu “tứ hành xung”. Sự tương hình này chỉ cản trở lẫn nhau không đáng kể.

   Ví như cụm tứ hành xung Tý – Ngọ – Mão – Dậu. Ở đây có hai cặp xung hàng chi là Tý – Ngọ và Mão – Dậu là phải chú ý, còn Tý với Mão và Tý với Dậu, sự cản trở không đáng kể, có thể bỏ qua.

   + Tương hại: Làm hại lẫn nhau, có 6 cặp sau:

   – Tý hại Mùi. (Thủy – Thổ)

   – Sửu hại Ngọ. (Thổ – Hỏa)

   – Dần hại Tỵ. (Mộc – Hỏa)

   – Mão hại Thìn. (Mộc – Thổ)

   – Thân hại Hợi. (Kim – Thủy)

   – Dậu hại Tuất. (Kim – Thổ)

   * Tương hợp hàng Can:

   Có năm cặp đối xứng nhau. Hợp nhau tốt.

   – Giáp hợp Kỷ. – Ất hợp Canh. – Bính hợp Tân.

   – Đinh hợp Nhâm. – Mậu hợp Quý.

  * Tương xung hàng Can :

   Có bốn cặp tương xung (xấu) gọi là tứ xung:

   – Giáp (phương Đông) xung với Canh (Phương Tây) đều dương.

   – Ất (Phương Đông) xung với Tân (Phương Tây) đều âm.

   – Bính (Phương Nam) xung với Nhâm (Phương Bắc) đều dương.

   – Đinh (Phương Nam) xung với Quý (Phương Bắc) đều âm.

   – Mậu Kỷ ở trung tâm, không phương hướng, không xung.

   Khi xét Xung và Hợp, dựa vào Lục thập hoa giáp và Âm Dương Ngũ Hành, để tính tuổi xung khắc và ngày tháng năm Can Chi định chọn. Chủ yếu xét ở Hàng Chi. Trong hàng Chi, quan trọng nhất ở Nhị hợp và Nhị xung là chính. Việc xét thêm các yếu tố khác, có tính chất bổ sung. Ngay trong hàng Chi, không phải cứ hai chi xung nhau, là xung nhau tất cả trong mọi trường hợp.

   Ví dụ: – Xem tuổi Giáp Tý xung khắc với tuổi nào?

   Xét hàng Chi: xung với Ngọ.

   Trong một vòng Hoa giáp, có 5 tuổi hàng Chi là Ngọ: Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Nhâm ngọ. Có phải Giáp Tý xung cả với 5 tuổi Ngọ trên không?

   Căn cứ vào Ngũ hành ta thấy:

nguhanhgiapty

   Như vậy chỉ có Mậu Ngọ và Nhâm Ngọ là xung với Giáp Tý. Khi xung với Nhâm Ngọ, Giáp Tý ở thế mạnh. Vì Kim loại chặt được gỗ (Mộc).

   Khi xung với Mậu Ngọ, Giáp Tý ở thế quá yếu vì Giáp Tý chỉ là Hải trung kim (vàng trong biển). Đây là xung mạnh nhất, vì Mậu Ngọ là Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời là cực mạnh).

   Xét hàng Can: Giáp xung với Canh.

   Trong một vòng Hoa giáp, có 6 tuổi hàng Can là Canh: Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn, Canh Ngọ, Canh Thân. Canh Tuất. Có phải Giáp Tý xung cả với 6 tuổi Canh trên không?

   Căn cứ vào Ngũ Hành ta thấy:

giapxungcanh

   Như vậy chỉ có Canh Dần và Canh Thân là xung với Giáp Tý.

   Khi xung với Canh Dần và Canh Thân, Giáp Tý ở thế mạnh vì Kim loại chặt được gỗ.

   Nhiều người cứ thấy hai chi Tý Ngọ xung nhau, hai can Giáp Canh xung nhau, vội bảo rằng hai tuổi ấy không lấy được nhau. Quả là một sự ngộ nhận, chưa hiểu hết căn cơ thấu đáo.

   Xem hai bảng trên, tuổi Tý và Ngọ vẫn nên duyên chồng vợ tốt, ví như Giáp Tý và Canh Ngọ chênh nhau 6 tuổi là đẹp.

bangxemtuoixungkhacgiaptyquydau

bangxungkhacgiaptuanquymui

bangxemtuoixungkhacgiapthanquyty

bangxemtuoixungkhacgiapngoquymao

bangxungkhacgiapthinquysuu

bangxungkhacgiapdanquyhoi

   Lưu ý: Hai năm cùng một Hành. Nhâm Tuất và Quý Hợi đều hành Thủy

   Xem Bảng trên, ta thấy mỗi một tuổi, chỉ xung với hai tuổi hàng Chi. Còn lại ba tuổi hàng Chi khác không xung. Hàng Can xung từ hai đến ba tuổi.

   Ví dụ: Nhâm Tuất & Quý Hợi đều là hành Thủy. Đại hải Thủy (Nước biển lớn).

   Nhâm Tuất:

   – Xung hàng Chi là Bính Thìn và Giáp Thìn.

   – Xung hàng Can là Bính Thân, Bính Dần, và Bính Tuất.

   Quý Hợi:

   – Xung hàng Chi là Đinh Tỵ và Ất Tỵ

    Xung hàng Can là Đinh Mão, Đinh Dậu và Đinh Hợi

   IV – XEM TUỔI THEO CUNG MỆNH TÁM QUẺ (BÁT QUÁI)

cungmenhtamque

   Năm sinh của mỗi người, ứng với một quẻ nhất định. Gọi là Bát trạch cung (battrachcung ). Nam nữ cùng sinh một năm, mỗi người có một mệnh cung khác nhau. Điều này khác với mệnh niên, nam nữ sinh cùng năm, đều có cùng mệnh niên.

bangbattrachmenhcung24-83

bangbattrachmenhcung84-43

   Để tính mệnh cung đơn giản và chính xác (ai cũng làm được). Cách làm như sau:

   – Trước tiên Lập Bảng:

tinhmenhcungdongian

   – Lấy năm sinh chia cho 9. Đem số dư đối chiếu bảng trên ta sẽ biết cung mệnh nam hoặc nữ.

   Ví dụ:

   – Người sinh năm 1979, lấy 1979 chia 9 số dư là 8.

   Đối chiếu bảng trên ta có Nam và Nữ đều cung Chấn.

   – Người sinh năm 1980, lấy 1980 chia 9 số dư là 9.

   Đối chiếu bảng trên: Nam cung Khôn, Nữ cung Tốn.

   Lưu ý: Trường hợp chia hết, số dư 0 được coi là dư 9. Hai năm 1980 và 1989 giống nhau.

   * Người xưa đã quan sát và đi tới kết luận: Mệnh cung của người Nam, phối hợp với Mệnh cung của người Nữ sẽ có hệ quả tốt hay xấu khác nhau.

   Xem các Bảng sau đây, biết hệ quả ấy tốt, xấu ấy ra sao.

   Có 6 nội dung Tốt, Xấu là :

   1 – Du Hồn: Tốt trung bình, vợ chồng vui vẻ, nhà cửa đầm ấm, thích Văn nghệ và hay mơ mộng. Con cái bình thường.

   2 – Thiên Y: Duyên nợ lâu dài. Trong ấm ngoài êm. Đầy đủ tinh thần vật chất.

   3 – Tuyệt Mệnh : Gãy gánh giữa đường. Tử biệt sinh ly. Buồn phiền, tiêu hao.

   4 – Sinh Khí: Tương hợp giai ngẫu. Tài lộc hòa hợp. Gia đình êm ấm. Phúc Tổ phùng lai. Con cháu phát đạt từng lúc. Hòa hợp tâm tính.

   5 – Phúc Đức & Phục vị: Trăm năm thỏa nguyện. An bài duyên phận. Gia đình no đủ. Êm ấm may mắn. Có uy quyền vinh hiển một bề.

   6 – Ngũ quỷ: Trước sau bất tường nợ duyên lận đận. Tâm lý chồng vợ không hoà, quanh năm túng quẫn.

nguquy1

nguquy2

   Bát trạch cung được sử dụng nhiều trong làm nhà. Căn cứ vào Bát trạch cung của chủ sự, xem hướng làm nhà. Bốn phương tám hướng và 24 sơn hướng. Mở cửa chính. Đặt bàn thờ. Kê giường. Đặt bếp và nhà tiêu …đều căn cứ vào Bát trạch cung. Điều này được nói nhiều hơn ở phần Phong Thủy.

   Việc xem Bát trạch cung trong hôn nhân chỉ có tính tham khảo.

   Xem tuổi xung khắc trong Hôn nhân căn cứ vào Niên Mệnh Ngũ Hành là chính. Xét xung khắc hàng Chi và xung khắc Hàng Can là cơ bản.

Chương II:  CHỌN NĂM, THÁNG NGÀY, GIỜ TRONG HÔN NHÂN VÀ CƯỚI HỎI

   Trong hôn nhân và cưới hỏi việc chọn năm, tháng, ngày, giờ để tiến hành các việc luôn được coi trọng

   * Chọn năm, tháng cho các Lễ trong cưới hỏi, căn cứ vào xung hợp trong Lịch Can Chi.

   * Chọn ngày giờ căn cứ vào các sao tốt xấu, chiếu trong ngày, giờ ấy.

   Trước hết xác định tính chất công việc, thời gian của từng việc và thời gian hoàn thành. Khi đã chọn được năm, tháng, đến khi chọn ngày; phải xem ngày đó có hợp với bản mệnh chủ sự không?

   A – CÁCH CHỌN NĂM. Các năm phải tránh là:

   – Tránh năm xung hàng Chi và hàng Can. (Xem Bảng ở đầu Kỳ 2)

   Ví dụ: năm Tý xung năm Ngọ. Lấy Giáp Tý (Hành Kim) mà xét:

   Hàng Chi: Giáp Tý (Hành Kim) phải tránh hai năm Mậu Ngọ (Hành Hỏa) và Nhâm Ngọ (Hành Mộc). Là hai năm xung hàng Chi.

   Hàng Can: Giáp Tý (Hành Kim) phải tránh hai năm Canh Dần (Hành Mộc) và Canh Thân (Hành Mộc). Là hai năm xung hàng Can.

   – Tránh năm Kim Lâu: Từ xưa không ai cưới vào năm tuổi Kim Lâu. Đã có câu:

   Một (1), ba (3), sáu (6), tám (8) tuổi Kim Lâu

   Cưới vợ làm nhà chẳng được đâu.

   Cách tính tuổi Kim Lâu: Lấy tuổi chủ sự (Tuổi Âm Lịch – Tuổi Mụ), trừ đi bội số của 9, số dư là: 1, 3, 6, 8. Đó là Tuổi Kim Lâu. Ví dụ: Tuổi chủ sự 28. Bội số của 9 trong phạm vi này là 3 × 9 = 27. Lấy 28 –27 dư 1. Vậy 28 là tuổi Kim Lâu.

   Bảng tính sẵn tuổi Kim Lâu: * 12,15,17,19. * 21, 24, 26, 28. * 30, 33, 35, 37, 39. * 42, 44, 46, 48. * 51, 53, 55, 57. * 60, 62, 64, 66, 69. * 71, 73, 75 …

   Việc xem tuổi theo năm Hang ốc, Tam tai là không cần thiết.

   – Tránh năm Tuổi. Tuổi chủ sự cứ sau một Giáp là năm tuổi. Ví dụ: Người sinh năm Giáp Tý, năm tuổi sẽ là: Bính Tý (13), Mậu Tý (25), Canh Tý (37), Nhâm Tý (49).

   Đối chiếu Ngũ Hành ta thấy:

   – Bính Tý (Thủy) Tương sinh với Giáp Tý (Kim).

   – Mậu Tý (Hỏa) Tương khắc với Giáp Tý (Kim).

   – Canh Tý (Thổ) Tương sinh với Giáp Tý (Kim).

   – Nhâm Tý (Mộc) Tương khắc với Giáp Tý (Kim).

   Bốn năm Tuổi của Giáp Tý chỉ có 2 năm Tương khắc cần tránh là Mậu Tý (25 tuổi) và Nhâm Tý (49 tuổi). Suy ra bất cứ tuổi nào cũng phải tránh cưới vào tuổi 25 và tuổi 49.

   – Tại sao nói: “Lấy vợ xem tuổi đàn bà?”

   Trong xã hội Phong kiến, “Nam, Nữ thụ thụ bất thân ” chỉ mối quan hệ nam nữ theo quan niệm của nho giáo. Đàn ông và đàn bà ngày xưa trao nhận cho nhau cái gì, đều không được trao trực tiếp tận tay (Hai chữ “thụ thụ” trái ngược nghĩa: một chữ “thụ” là trao cho, một chữ “thụ” là nhận).

   Trai gái không được tự do tìm hiểu. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Con gái ra đường, thấy con trai phải lấy khăn hoặc nón che mặt. Bởi vậy, nhà trai muốn chọn vợ cho con mình. Phải tìm bà mối đến hỏi ngày, giờ, tháng, năm sinh của cô gái. Xem tuổi cô gái có hợp với tuổi con trai mình không. Vậy mới có câu: “Lấy vợ xem tuổi đàn bà”. Như vậy, thực ra vẫn phải xem tuổi của cả hai người. Ngày nay điều này dễ hơn nhiều. Không nên hiểu tuổi đàn bà quan trọng hơn tuổi đàn ông, hoặc chỉ cần xem tuổi đàn bà!

   – Tại sao nói: “Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn?”. Nam nữ cùng tuổi, cùng một Can Chi, mệnh niên cùng một hành trong Ngũ Hành. Như vậy là Tương Hòa.

   – Tại sao nói: “Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một? ”

   Ngày trước khi dựng vợ gả chồng, các cụ có một quy chuẩn: thứ nhất là vợ hơn chồng hai tuổi, thứ nhì mới đến chồng hơn vợ một tuổi. Xét trên ba nội dung sau:

   + Một là: Ngày trước lao động nông nghiệp là chủ yếu, việc đồng áng cần có người làm. Lấy vợ cho con là để có người lao động và quán xuyến việc nhà. Cảnh vợ hơn tuổi chồng ngày trước khá phổ biến. Thậm chí chồng còn thò lò mũi xanh. Chẳng thế mà ca dao tục ngữ còn lưu lại:

   Bồng bồng cõng chồng đi chơi

   Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng

   Chị em ơi ! Cho tôi mượn cái gầu sòng

   Để tôi tát nước múc chồng tôi lên.

   + Hai là: Quy chuẩn trên hoàn toàn không phạm vào xung hàng Chi và hàng Can.

   Trong 12 Chi có 6 cặp xung nhau, luôn cách nhau 6 số: xung Ngọ; Sửu xung Mùi; Dần xung Thân; Mão xung Dậu; Thìn xung Tuất; Tỵ xung Hợi

6capxungnhau

   Trong 10 Can có 4 cặp xung nhau: Giáp xung Canh; Ất xung Tân; Bính xung Nhâm; Đinh xung Quý; Mậu Kỷ không xung.

4capxungnhau

   Xem bảng trên, ta có thể giả định một số trường hợp:

   * Chồng: Bính Dần, vợ Giáp Tý (vợ hơn chồng 2 tuổi). Tý và Dần hai Chi không xung. Giáp và Bính hai Can không xung.

   * Chồng: Mậu Thìn, vợ Kỷ Tỵ (chồng hơn vợ 1 tuổi). Thìn và Tỵ hai Chi không xung. Mậu Kỷ hai Can không xung.

   + Ba là: Sự kết hợp 12 Chi với 10 Can, để có 12 năm. Trong 12 năm ấy vẫn còn có một số năm không xung cả Chi và Can, vẫn có thể là thứ ba, thứ tư… lấy nhau được; nhưng các cụ xưa vẫn xếp thứ nhất gái hơn 2, thứ nhì trai hơn 1; bởi lẽ các cụ không muốn vợ chồng chênh nhau quá nhiều tuổi.

     Việc xung, hợp tuổi của hai người có thật sự ảnh hưởng đến Hạnh phúc của vợ chồng? Nói đúng, cũng chưa hẳn. Nói sai đã chắc gì, tại sao từ xưa tới nay người ta vẫn coi trọng điều này?

   Chiêm nghiệm cuộc sống, ta thấy có đúng có sai. Tỷ lệ đúng sai chỉ là tương đối. Thế mới là cuộc sống. Vốn không có gì tuyệt đối cả!

   Một đôi dù hợp tuổi, cũng có lúc “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”. Một đôi xung tuổi, vẫn có lúc:

   “Râu tôm nấu với ruột bầu.

   Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!”

   Bởi vậy các bạn trẻ cần tìm hiểu kỹ người mình yêu. Cầu toàn là ảo tưởng. Vội vã có lúc hối hận. Biết tuổi xung hợp, là biết các tín hiệu tốt xấu để cảnh giới và tự điều chỉnh trước, trong và cả sau khi bước vào Hôn nhân.

   Làm vậy chỉ có lợi mà thôi. Đó là một yếu tố tinh thần giúp ta an lòng. Chẳng thế mà mọi Tôn giáo đều có đông đảo con chiên.
Những yếu tố trong việc xem tuổi chỉ là dự báo. Khoa Tử Vi cũng vậy. Tất cả chỉ đưa ra những khả năng dự báo, có thể và không thể mà thôi. Biết khả năng xấu để hạn chế và khắc phục. Thấy khả năng tốt, tìm cách nhân lên.

   Thường xuyên giữ gìn và phát huy những cái tốt, khắc phục những cái xấu. Nếu có cái xấu, hãy bình tâm xem xét; hạn chế, để rồi chấp nhận cái xấu ở mức thấp nhất. Thậm chí phải chung sống với nó, như chung sống với lũ vậy! đấy mới là cách giải quyết biện chứng, khoa học và nhân văn. Được vậy, dù vợ chồng bạn có xung tuổi, vẫn trăm năm hạnh phúc đến đầu bạc răng long.

   Cụ Nguyễn Du đã viết: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”

   B – CÁCH CHỌN THÁNG:

   Giống như cách chọn năm. Cũng tránh tháng xung, tháng Tuổi.

   Riêng tháng Bảy không được, vì là tháng Xá tội vong nhân (thuộc Âm)

   Theo Lịch Âm đã quy định, tháng giêng bao giờ cũng là tháng Dần, tháng hai Mão, tháng ba Thìn…cho đến tháng mười một là Tý, tháng mười hai là Sửu.

   Lịch bán hàng năm đều có ghi Can Chi của từng tháng, từng ngày rất rõ.

   C – CÁCH CHỌN NGÀY:

   Mỗi một ngày đều có sao tốt và sao xấu chiếu. Trong Cưới hỏi chỉ cần tránh các sao xấu về Hôn nhân. Tránh các sao xấu đối với mọi việc. Các sao xấu khác về xây dựng, động thổ…hoàn toàn không ảnh hưởng đến hôn nhân.

   Các sao xấu về Hôn nhân là: Thụ tử, Không phòng, Ly sàng, Quả tú, Tứ thời cô quả, Sát chủ, Vãng vong, Không vong, Nhân cách.

   Việc chọn năm, tháng, ngày, giờ cũng chỉ là tương đối. Không nên quá máy móc, vì cuộc sống luôn biến hóa. Ta có thể vận dụng phép quyền biến cho phù hợp tình hình.

Sao_tot_xau_thang_gieng_thang_dan

Các ngày hàng Can, trong tháng Giêng có thêm:

* Giáp: Có thêm Thiên quý và sao xấu Trùng tang

* Ất: Có thêm Thiên quý.

* Bính: Có thêm Nguyệt đức. Nguyệt ân.

* Đinh: Có thêm Thiên đức.

* Mậu: Ngày Mậu dần có sao Thiên xá.

* Kỷ: Có thêm Thiên phúc.

* Canh: Có sao xấu Trùng phục.

* Tân: Có thêm. Nguyệt đức hợp.

* Nhâm: Có thêm Thiên đức và sao xấu Nguyệt không.

Sao_tot_xau_thang_2_thang_mao

Các ngày hàng Can, trong tháng Hai có thêm:

* Giáp: Nguyệt đức. Thiên quý

* Ất : Thiên quý. Trùng tang. Dương thác (Ất mão)

* Đinh: Nguyệt ân.

* Mậu: Thiên phúc. Thiên xá (Mậu dần).

* Kỷ: Nguyệt đức hợp.

* Canh: Nguyệt không.

* Tân: Trùng phục. Âm thác (Tân dậu)

Sao_tot_xau_thang_ba_thang_thin

Các ngày hàng Can, trong tháng Ba có thêm:

* Giáp: Thiên quý . Dương thác ( Giáp thìn ).

* Ất: Thiên quý.

* Bính: Nguyệt không.

* Đinh: Thiên đức hợp. Nguyệt đức hợp.

* Mậu: Thiên xá ( Mậu dần )

* Kỷ: Trùng tang. Trùng phục.

* Canh: Nguyệt ân.Âm thác. Tân:Thiên địa chuyển sát (Tân mão,Ất mão ).

* Nhâm: Thiên đức. Nguyệt đức.

Sao_tot_xau_thang_tu_thang_ty

Các ngày hàng Can trong tháng Tư có thêm:

* Giáp: Thiên xá ( Giáp ngọ ) Nguyệt không * Kỷ: Nguyệt ân

* Ất : Nguyệt đức hợp * Canh: Nguyệt đức.

* Bính: Thiên đức hợp. Thiên quý. Trùng tang .

* Đinh : Thiên quý. * Tân: Thiên đức. Thiên phúc.

* Nhâm : Trùng phục. * Quý: Thiên phúc

Sao_tot_xau_thang_nam_thang_ngo

Các ngày hàng Can trong tháng Năm có thêm:

* Bính: Nguyệt đức. Thiên quý. * Canh : Thiên phúc

* Đinh : Trùng tang. Thiên quý * Tân : Nguyệt đức hợp.

* Mậu : Nguỵêt ân. * Quý : Trùng phục

sao_tot_xau_thang_sau_thang_mui

Các ngày hàng Can, trong tháng Sáu có thêm:

* Giáp : Thiên đức. Nguyệt đức. Thiên xá (Giáp ngọ)

* Bính : Thiên quý.

* Canh : Nguyệt không

* Kỷ : Thiên đức hợp. Nguyệt đức. Trùng tang

* Đinh : Thiên quý.

* Tân : Nguyệt ân.

* Mậu : Trùng phục

Sao_tot_xau_thang_bay_thang_than

Các ngày hàng Can trong tháng Bảy có thêm:

* Giáp : Trùng phục * Ất : Thiên phúc.

* Canh : Thiên quý. Trùng tang. * Bính : Nguyệt không.

* Tân : Thiên quý * Đinh : Nguyệt đức hợp

* Nhâm : Nguyệt đức. Nguyệt ân. * Mậu : Thiên đức hợp.

* Quý : Thiên đức.

Sao_tot_xau_thang_tam_thang_dau

Các ngày hàng Can trong tháng Tám thêm :

* Giáp: Thiên phúc. Nguyệt không. * Ất: Nguyệt đức hợp. Trùng phục.

* Canh: Nguyệt đức. Thiên quý. * Mậu thân: Thiên xá.

* Tân: Thiên quý. Trùng tang. * Quý: Nguyệt ân.

Sao_tot_xau_thang_chin_thang_tuat

Các ngày hàng Can, trong tháng Chín có thêm:

* Bính: Thiên đức. Nguyệt đức.

* Kỷ: Trùng tang. Trùng phục.

* Mậu: Thiên xá (Mậu thân)

* Canh: Thiên quý. Nguyệt ân.

* Tân: Thiên đức hợp. Nguyệt đức hợp. Thiên quý.

* Nhâm: Nguyệt không

Sao_tot_xau_thang_muoi_thang_hoi

Các ngày hàng Can, trong tháng Mười có thêm:

* Giáp: Nguyệt đức.Thiên xá (Giáp Tý)

* Kỷ : Nguyệt đức hợp.

* Ất : Thiên đức. Nguyệt ân. .

* Quý:Thiên quý.Âm dương thác (Quý sửu,Quý hợi)

* Nhâm: Thiên quý. Trùng tang. Trùng phục

* Canh: Thiên đức hợp. Nguyệt không

Sao_tot_xau_thang_11_thang_ty

Các ngày hàng Can, trong tháng Mười Một có thêm:

* Giáp: Nguyệt ân.

* Bính : Thiên phúc. Nguyệt không.

* Đinh: Nguyệt đức hợp.

* Nhâm: Nguyệt đức. Thiên quý. Âm dương thác (Nhâm tý).

* Quý: Thiên quý. Trùng tang. Trùng phục.

Sao_tot_xau_thang_12_thang_suu

Các ngày hàng Can, trong tháng Mười Hai có thêm:

* Giáp: Thiên xá. Nguyệt không.

* Kỷ: Trùng tang. Trùng phục

* Ất: Thiên đức hợp.Nguyệt đức hợp.

* Tân: Nguyệt ân. * Nhâm: Thiên quý.

* Quý:Thiên quý. Âm dương thác (Quý sửu, Quý hợi)

   Các Sao Xấu phải tránh trong Hôn nhân :

*  Sáu sao xấu trực tiếp việc Hôn nhân là: Ly sàng (Còn gọi Ly sào), Quả tú. Cô quả. Tứ thời cô quả. Không phòng. Thụ tử. Sát chủ.

Các Sao Phi ma Sát. Trùng tang. Trùng phục. Tam tang. Cô thần. Ngũ hư. Nguyệt hư. Nhân cách. Xích khẩu. Âm dương thác. Xấu các việc khác là chính, nhưng cũng có ảnh hưởng xấu chút ít đến việc Hôn nhân.

Tại sao lại kiêng ngày Tam Nương?

Tam Nương là sáu ngày trong một tháng gồm: Mồng ba, Mồng bảy, Mười ba, Mười tám, Hai hai, Hai bảy (3 – 7 – 13 – 18 – 22 – 27)

Theo tín ngưỡng của người Tàu, tam nương là sáu ngày rất xấu trong một tháng. Mỗi khi khởi sự việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v…) phải tránh sáu ngày này. Tại sao lại như vậy?

Tam nương là ba người con gái gồm: Muội Hỉ, Đát Kỷ, và Bao Tự. Sách sử Tàu đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương và Tây Chu thời trước Công nguyên.

– Vua Kiệt (1818 – 1767 TCN) vì say đắm tửu sắc, quá mê Muội Hỉ. Trong khi Muội Hỉ tư thông với kẻ thù nên bị mất nước.

– Vua Trụ (1154 – 1122 TCN), nổi tiếng là vua dâm đãng, ông mê Đát Kỷ đến mức quên việc triều chính; vùi đắm trong trụy lạc, kết cục bị chết thảm hại và mất nhà Thương. Huyền thoại còn lưu truyền rằng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hóa ra mỹ nhân, để hại nhà Thương.

– Chu U vương (781 – 771 TCN) quá mê say Bao Tự, làm mọi cách mà nàng vẫn không cười. Vua lệnh ai làm nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng. Sau này nhà thơ Lý Bạch đời Đường có viết một câu thơ nổi tiếng về nàng: “Mỹ nhân nhất tiếu hoán thiên kim” (Ngàn vàng đổi lấy một nụ cười người đẹp). Nàng chỉ thích nghe tiếng lụa xé, U vương cho xé lụa ngày đêm để nàng vui. Chiều lòng người đẹp, nhà vua còn cho đốt lửa các hỏa đài trên núi cao, để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (U vương). Bao Tự đứng trên lầu, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo. Hậu quả, sau này khi bị quân Khuyển Nhung vây khốn nguy ngập, U vương cho đốt lửa trên hỏa đài, các chư hầu không thèm về cứu nữa, vì đinh ninh cho là trò lừa, cốt làm vui lòng người đẹp. Kết cục là mất nước.

Ngày tam nương là những ngày ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ, Bao Tự được đưa vào nội cung, cũng là những ngày nước bị mất của ba ông vua rất hiếu sắc, tham dâm, bạo ngược vô đạo nói trên. (Xem Truyện Phong thầnĐông chu liệt quốc rõ thêm điều này). Dù hoang đường nhưng tín ngưỡng dân gian lâu đời đã truyền từ Tàu sang Việt Nam, ảnh hưởng khá nặng trong đời sống xưa nay.

Ngày Tam nương xét ra chẳng liên quan gì tới người Việt Nam ta cả. Nếu như đó là ngày xấu cần phải kiêng, thì chỉ kiêng với người Tàu mà thôi!

Tại sao gọi là ngày Nguyệt Kỵ? (Là ba ngày phải kiêng trong một tháng). Ta thường nghe:

   “Mồng Năm, Mười Bốn, Hai ba. (5 – 14 – 23.)

   Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn.”

Nên hiểu như thế nào? Điều này bắt nguồn từ Truyền thuyết Vua Hạ Vũ (Trung Hoa) sống ở thế kỷ 22 trước Công nguyên (2205-2167) nhân tuần du trên Sông Hoàng Hà và Sông Lạc thấy một con Rùa, trên mai Rùa có số lượng các chấm đen trắng sắp xếp như sau:

mai_rua

Chú ý: Các số ngang, dọc, chéo đều có tổng số là 15. Số 5 ở giữa.

Chuyện lưu truyền chỉ là Truyền thuyết. Điều ta quan tâm là sự sắp xếp của các số trong Hình vuông kỳ dị đó. Người Phương Tây cũng phát hiện từ thời cổ, họ dùng hình vuông này làm bùa. Hình vuông đó gọi là Carré magique: Ma phương.

Số 5 ở giữa gọi là Hoàng Cực, số thuộc nội tộc Nhà Vua, chỉ dành riêng cho nhà Vua. Bởi vậy trong tháng có ba ngày: Mồng 5. Mười bốn 14: (1 + 4 = 5). Hai mươi ba: 23 (2 + 3 = 5). Như vậy ba ngày 5, 14, 23, là ba ngày Hoàng cực, ba ngày tốt nhất trong tháng.

Nhà Vua chỉ chọn ba ngày ấy để ra khỏi Cung. Vua chúa đi đâu cũng có binh lính dẹp đường, tiền hô hậu ủng. Dân chúng không được nhìn mặt Vua, phải cúi rạp hai bên vệ đường. Chờ cho đoàn xe giá đi qua mới được đứng lên. Muốn được việc, đành phải tìm đường khác. Nhiều khi họ phải trở về, vì không có đường đi. Dần dần trở thành tục lệ tránh ba ngày trên. Ngày tốt đối với kẻ cao sang, trở thành ngày xấu đối với dân thường!

Trong chọn ngày. Xin lưu ý không có ngày hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu. Tốt xấu đan xen nhau, như hai mặt Âm và Dương. Các vị sẽ băn khoăn không biết chọn ra sao. Trước hết căn cứ vào việc cần làm mà chọn. Phải tránh những sao xấu trực tiếp cho công việc ấy. Sau đó dùng phép loại trừ số học. Sao tốt nhiều và mạnh có thể át các sao xấu.

Ví dụ: Ngày Hợi. Tháng Mười. Năm Đinh Hợi. (13-11-2007). Tháng này có hai ngày Hợi. Mồng 4 (Tân Hợi), Mười 16 (Quý Hợi). Ngày này có tới 9 sao xấu, chỉ có 4 sao tốt. Nhưng chọn cho Hôn nhân được, vì các sao xấu không ảnh hưởng đến Hôn nhân. Riêng ngày 16 (Quý Hợi) còn thêm sao tốt là Thiên quý.

   * Cách chọn giờ tốt trong ngày: Một ngày đêm có 12 giờ Âm lịch. Được quy định như sau:

gio_tot_trong_ngay

gio_tot_cc_ngay_giap_at

gio_tot_cac_ngay_binh_dinh

gio_tot_cac_ngay_mau_ky

gio_tot_cac_ngay_canh_tan

gio_tot_cac_ngay_nham_quy

Một ngày có sáu giờ tốt (Giờ Hoàng đạo) và sáu giờ xấu (Giờ Hắc đạo). Trong 6 giờ Tốt lại chỉ có từ 1 đến 3 giờ Tốt nhất được ghi đậm mầu đỏnghiêng trong Bảng. Tùy công việc mà chọn.

Ví dụ: Ngày Nhâm Thìn, có 3 giờ tốt nhất là Tỵ, Dậu, Hợi và 3 giờ tốt vừa là Dần, Thìn, Thân. Để thuận lợi công việc, chọn giờ Thìn (Từ 7 h đến 9 h) bắt đầu công việc. Tiếp đến giờ Tỵ (Từ 9 h đến 11 h) là giờ tốt nhất. Công việc được trọn vẹn trong buổi sáng. Như vậy thuận lợi cho chủ sự rất nhiều.

* Thế nào là: Đi hơn về kém ?

Khi xuất phát đến nhà gái làm các Lễ, cũng như khi từ nhà gái về nhà trai; ta thường nghe nói: “Đi hơn về kém” .

Đi là từ địa điểm bắt đầu xuất phát (nhà trai).

Về có hai ý. Từ địa điểm đã đến (nhà gái), ta bắt đầu ra về. Đồng thời cũng là về nơi xuất phát lúc ban đầu (nhà trai).

Mọi sự vật cũng như cuộc đời con người, sự phát triển đều tuân theo một quy luật không đổi. Bắt đầu là sinh trưởng, rồi tiến dần lên. Thời kỳ đầu có tốc độ mạnh. Tới đích là đỉnh điểm. (Thời kỳ hưng vượng nhất). Từ đỉnh điểm bắt đầu suy thoái dần, tụt dốc và đến hủy diệt.

Nhìn nhận như vậy, ta thấy trong một giờ tốt: Lúc khởi đầu đang có đà phát triển mạnh dần lên. Vậy đi hơn, là đi lúc giờ tốt đã được vài phút (Hơn là như vậy). Ta đi trong thế đang phát triển mạnh. Đương nhiên khi về cũng phải ở trong khung giờ tốt. Nếu vì lý do bất khả kháng, cần phải tính toán về nhà trai trước khi hết giờ tốt một vài phút. Về kém là như vậy.

Hiện vẫn có sự ngộ nhận về sự “về kém”. Nhiều người vẫn quan niệm từ nhà gái ra về phải kém vài phút. Nếu như giờ đó là giờ xấu, thì về kém cũng chẳng có ý nghĩa gì, vì vẫn chịu về trong giờ xấu! Về kém là về nhà trai trong khung giờ tốt, hoặc kém vài phút trước khi hết giờ tốt.

Chương III: CÁC LỄ TRONG HÔN NHÂN VÀ CƯỚI HỎI

   I – CÁC LỄ CHÍNH

Thời phong kiến, con cái luôn phụ thuộc vào cha mẹ, việc hôn nhân cha mẹ quyết đoán “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Không cần biết tình yêu của con cái, chỉ cốt tìm được nơi “môn đăng hộ đối”. (Điều kiện gia đình tương đương trong hôn nhân). Cha mẹ nhờ “mối lái” trong hôn nhân, nên cá biệt có trường hợp con không vừa ý, đã kiên quyết phúc hôn (con cái trả đồ lễ, hủy đám cưới).

Người phụ nữ chịu nhiều điều ràng buộc khắt khe bởi luân lý của Nho giáo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ bắt buộc phải theo. “Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử” – (Khi còn ở nhà phải theo cha, Lấy chồng phải theo chồng, Chồng chết phải theo con).

Người xưa quan niệm mục đích hôn nhân cốt duy trì dòng dõi, nên việc hôn nhân là việc chung của gia tộc, chứ không phải việc riêng của con cái. Bởi vậy, dựng vợ gả chồng cho con là quyền quyết định của cha mẹ. Nghĩa vụ của mỗi người đối với tổ tiên, dòng họ là phải truyền giống về sau để “vĩnh truyền tôn thống”, nếu “vô hậu – không có người nối dõi” là phạm điều bất hiếu lớn nhất.

Việc hôn nhân không những chỉ có nguyên nhân huyết thống, mà còn có nguyên nhân kinh tế. Người vợ không phải chỉ sinh con đẻ cái nối dõi tông đường, mà còn phải làm lụng và coi sóc việc nhà cho gia đình nhà chồng.

Chế độ đa thê – nhiều vợ là đương nhiên, người đàn ông được phép lấy nhiều vợ. Lấy thiếp (còn gọi là vợ lẽ, vợ hai, vợ ba, nàng hầu…) không cần tổ chức lễ cưới, vì người thiếp không phải là một phần tử trọng yếu trong gia đình; nên chồng hay vợ chính, muốn đuổi khi nào cũng được.

Trong hôn nhân và cưới hỏi ngày xưa có sáu lễ. Gọi là Lục lễ. Sáu lễ đó là:

* Lễ Vấn danh: Bà mối đến hỏi tên, tuổi, ngày, giờ, tháng, năm sinh của cô gái. Để nhà trai xem tuổi cô gái có hợp với tuổi con trai mình không. Đây là lễ đầu tiên.

* Lễ Nạp cát: Báo cho nhà gái biết, đã bói được quẻ tốt. Việc hôn nhân đã được quyết định.

* Lễ Nạp trưng: Nhà trai nhờ bà mối đến nhà gái, nói nhà trai đồng ý chọn con gái nhà ấy.

* Lễ Nạp thái (Nạp tệ): Đem sính lễ đến nhà gái, để làm lễ cáo Từ đường.

* Lễ thỉnh kỳ: Xin ngày rước dâu

* Lễ thân nghinh hoặc nghinh hôn: Lễ Rước dâu

Ngày nay, chế độ hôn nhân tự do tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng. Pháp luật bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái. Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ và cấm tảo hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ…được thể chế hoá thành Luật Hôn nhân và gia đình.

Ở phương diện luật định, sau khi đăng ký kết hôn; đôi trai gái được pháp luật bảo vệ, đã là vợ chồng. Tuy nhiên, trong tâm thức và văn hóa dân tộc, lễ cưới chứ không phải chỉ là tờ hôn thú, mới là thời điểm để họ hàng, bè bạn và mọi người chính thức công nhận đôi trai gái là vợ chồng.

Chính vậy, tại lễ cưới nhiều vấn đề xã hội diễn ra, khen chê của dư luận xã hội đều tập trung vào đó. Không tránh khỏi “ma chê cưới trách“, nhưng rồi cũng thông cảm “ai chê đám cưới, ai cười đám ma“. Một đám cưới theo nghi thức cổ truyền có thể vừa được khen, vừa bị chê. Người khen thì cho rằng thế mới là đám cưới Việt Nam, thế mới không có sự du nhập của văn hoá ngoại lai; nhưng người chê thì lại nói rằng thế là rườm rà, lãng phí và luỵ cổ.

Chính quyền không cấm việc tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán xưa. Ngày 25/11/2005 Thủ tướng chính phủ ban hành “Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi”, quy định rằng: “các thủ tục có tính phong tục, tập quán như chạm ngõ, lễ hỏi, xin dâu cần được tổ chức đơn giản và gọn nhẹ”, “việc cưới cần được tổ chức trang trọng vui tươi, lành mạnh phù hợp với phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc”.

Trình tự tiến hành lễ cưới của người Việt Nam, có thể có những cách thức, tên gọi khác nhau, đa số có những điểm chung. Cơ bản vẫn là sáu lễ có từ trước, cha ông ta đã thực hiện. Vấn đề là vận dụng và ứng xử với thời bây giờ sao cho phù hợp, vừa đảm bảo tính hiện đại nhưng vẫn “đậm đà bản sắc dân tộc”.

Sáu lễ này xuất phát từ Trung quốc, khi sang ta đã được lược bớt ít nhiều và sáng tạo cho phù hợp với phong tục, tập quán Việt Nam. Dưới thời phong kiến, trai gái không được tự do giao lưu quan hệ. Lễ giáo quy định “Nam nữ thụ thụ bất thân”. Do đó trong hôn nhân phải có Lễ vấn danh để xem tuổi người con gái có hợp với tuổi người con trai hay không.

Ngày nay, trai gái được tự do tìm hiểu. Bởi vậy đôi bạn trai gái và gia đình hai bên hiểu nhau khá tường tận. Không còn Lễ vấn danh nữa. Từng địa phương có biến thể một số Lễ. Tên gọi các Lễ cũng khác đi chút ít. Nhưng chung quy lại, việc cưới hỏi bây giờ chỉ cần Năm Lễ sau:

   1 – Lễ chạm ngõ. (Dạm ngõ)

Trai gái được quyền tự do yêu đương. Khi đã tâm đầu ý hợp, tìm được ý trung nhân, nửa kia còn thiếu của mình. Mặc dù cả hai “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e!”. Người con trai chính thức cầu hôn, bằng việc trao chiếc nhẫn cầu hôn cho người mình yêu. Tục này phổ biến ở châu Âu, ở ta một số dân tộc còn duy trì như trao vòng cầu hôn.

Sau khi người con gái nhận lời cầu hôn của người con trai, bằng lòng lấy người ấy làm chồng; khi này bên gia đình nhà trai mới tiến hành Lễ chạm ngõ.

Hai nhà đều biết hai con yêu nhau và đồng ý cho họ lấy nhau. Nhưng khi nhà trai chưa sang thưa chuyện với nhà gái, coi như họ chưa chính thức. Danh chưa chính, ngôn chưa thuận.
Được sự thống nhất cao của hai nhà, qua thông tin của đôi bạn trẻ. Khi đã thực sự chín muồi. Nhà trai sang nhà gái, chính thức đặt vấn đề cho hai con được công khai yêu nhau. Hai nhà được làm thông gia (xui gia).

Đây là một lễ nhằm chính thức hóa quan hệ Hôn nhân giữa hai gia đình. Nhà trai đặt vấn đề chính thức cho đôi nam nữ được tự do đi lại, tiếp tục tìm hiểu nhau kỹ càng hơn, trước khi đi đến quyết định Hôn nhân. Đây là điểm đặt quan trọng để hai nhà tác thành cho đôi lứa nên duyên chồng vợ. Niềm mong mỏi của hai nhà: “Trai khôn dựng vợ, gái ngoan gả chồng”.
Trong Lễ chạm ngõ này, thành phần chủ yếu của nhà trai, chỉ cần một đến hai người trong gia đình, (Bố Mẹ hoặc người bề trên) cùng chú rể tương lai là được. Lễ vật không phải cầu kỳ. Tùy phong tục từng nơi mà vận dụng. Nhưng nhất thiết phải có trầu, rượu (một chục trầu, một chai rượu). “Miếng trầu là đầu câu chuyện”.

Trước đây bà mối đóng vai trò quan trọng trong Lễ chạm ngõ. Họ là cầu nối để hai nhà biết nhau. Là giao liên thông tin qua lại giữa hai bên. Đồng thời cũng là người khai cuộc cho Lễ chạm ngõ. Vì đây là lần đầu hai nhà gặp nhau.

Nhà gái nhận trầu đặt lên bàn thờ trình gia tiên là kết thúc lễ. Hai nhà có thể trao đổi tùy tình hình.

Lễ này tuy đơn giản, nhưng không thể bỏ qua được. Bởi vì nó là khởi đầu cho việc hôn nhân. Thời trước còn gọi Lễ này là Xem mặt. Trong Lễ này, nhà trai có thể đặt vấn đề với nhà gái, cho biết về những lễ vật cụ thể mà nhà gái yêu cầu cho Lễ Nạp tài sắp tới, để nhà trai chuẩn bị chu đáo.

Sau khi làm Lễ chạm ngõ, chàng trai chính thức là chú rể tương lai. Trong thời gian chờ đợi cưới (dài ngắn phụ thuộc vào hai bên). Cần lưu ý “Tương lai là cái chưa đến”. Bởi vậy họ phải tiếp tục tìm hiểu kỹ càng. Có đám đã chạm ngõ, nhưng vẫn không nên duyên chồng vợ !

Sau lễ chạm ngõ, nhà trai có thể tiến hành Lễ Ăn hỏi sau đó một thời gian ngắn.

   2 – Lễ Ăn hỏi.

Sau khi chạm ngõ, hai nhà và cô cậu có thời gian tìm hiểu nhau nhiều hơn. (Thời gian này dài, ngắn phụ thuộc các yếu tố và công tác chuẩn bị của cả hai bên) Tình yêu của họ càng nồng nàn. Họ đẹp đôi như: “Tiên đồng ngọc nữ” không thể thiếu nhau. Họ đi tới quyết định cưới nhau nên vợ nên chồng. Lúc này nhà trai mới tiến hành Lễ Ăn hỏi.

Chủ lễ nhà trai là một người cao tuổi có vai vế trong họ, ngoài ra có thêm một số vị trí trong nội tộc, bạn bè của bố mẹ và chú rể. Bên nhà gái cũng bố trí thành phần tương xứng, đối trng theo nghi thức và tập tục từng nơi.

Lễ Ăn hỏi có vai trò quan trọng trong cả quá trình, nhất là đối với nhà gái. Chỉ đứng sau lễ Nạp tài. Nó đánh dấu một chuyển đoạn quan trọng trong hôn nhân.

Nội dung chính của lễ là: Nhà trai xin cô gái về làm dâu, nhà gái nhận chàng rể tương lai. Thông qua Lễ Ăn hỏi, hai nhà chính thức tác thành cho đôi bạn nên vợ nên chồng. Lễ này còn gọi là Lễ đính hôn. Cô gái chính thức là người vợ chưa cưới của chàng trai. Chàng trai cũng là chồng chưa cưới của cô gái. Đây cũng là một thông điệp để công bố cho mọi người biết: Biên giới đã được hoạch định, không một ai được xâm phạm lãnh địa!

Ngày nay, giao lưu văn hóa đông tây rộng mở, một số tục cưới hỏi của phương tây đã du nhập. Một số bạn trẻ trao nhẫn đính hôn cho người vợ tương lai của mình trong lễ này.
Trước đây, lễ vật Ăn hỏi khá to chỉ ít hơn lễ vật Nạp tài một chút. Chưa có vòng xuyến, quần áo và tiền mặt. Các thức như lợn, gạo, rượu, trầu cau, chè thuốc, bánh trái phải có để nhà gái cúng nhà thờ Họ, cáo gia tiên nhà mình, và đem lễ mời họ hàng.

Khi nhà gái đặt trầu rượu cáo gia tiên, lễ cơ bản xong.

Có nơi trong Lễ Ăn hỏi, nhà gái mời nội tộc, mời đoàn họ nhà trai và những người thân thích ăn uống để chung vui cùng nhà gái.

   3 – Lễ Xin cưới.

Ngày trước sau khi làm Lễ Ăn hỏi. Nhà trai chưa được xin cưới ngay. Chàng rể tương lai phải đi xêu (Hình thức đi tết bố mẹ vợ trong năm, không cứ phải là vào dịp Tết) đi Tết từ một đến ba năm. Mùa nào xêu tết thức ấy. Quan trọng nhất là các ngày Tết cổ truyền. Đồ đi tết ngoài trầu rượu, còn có gạo nếp, thủ lợn, hoa quả, bánh, mứt, chè, thuốc…Có nơi chàng rể tương lai còn phải đến giúp việc, khi nhà gái có công to việc nhỏ.

Sau một thời gian, ít nhất là một năm; nhiều là ba năm, nhà trai xét thấy có thể cưới được. Thông qua bà mối đến xin ý kiến nhà gái. Nếu nhà gái đồng ý chấp nhận, nhà trai mới được tiến hành Lễ xin cưới. Thường nhà trai nhằm khi thu hoạch mùa màng xong. Chuẩn bị đủ tiền của, vật chất, kinh tế dư dật. Vào cuối năm là mùa cưới. Chọn ngày lành tháng tốt, sang nhà gái tiến hành Lễ Xin cưới.

Bây giờ do đôi trai gái quyết định. Một số đám sau dạm ngõ một thời gian ngắn xin cưới ngay. Quan hệ giữa hai nhà thuận lợi, thông cảm và hiểu nhau hơn. Bởi lẽ trai gái được tự do qua lại giữa hai nhà. Cả trai và gái đều có trách nhiệm như nhau. Lễ, Tết hoặc nhân dịp đi công tác xa về đều có quà biếu bố mẹ đôi bên, to hay nhỏ là tùy tâm, tùy điều kiện. Cũng coi như là đi xêu, tết vậy. Cái quý là ở tấm lòng. Khi có công to việc nhỏ, gái cũng như trai đều qua lại, tham gia như con cái trong nhà.

Thành phần đến Lễ xin cưới chủ yếu là các bậc bề trên trong họ trai, cùng bố mẹ và chú rể. Đồ Lễ chủ yếu là trầu rượu.

Nội dung Lễ xin cưới: Xin nhà gái cho cưới vào thời điểm thích hợp (đầu xuân hoặc cuối năm, nói rõ xin cưới đón cô dâu lên xe hoa vào ngày giờ cụ thể). Nhà gái đồng ý chấp nhận cho cưới, nhà trai mới được đề nghị nhà gái cho biết lễ vật khi Nạp tài.

Lúc này nhà gái mới đưa ra yêu cầu cụ thể. Ngày trước gọi là Thách cưới, bây giờ hai bên bàn bạc sao cho hợp lý.

Lễ vật to nhỏ, nặng nhẹ là do bên nhà gái. Thường là lợn, gạo nếp, trầu cau, chè thuốc, nhẫn vòng, áo quần…Có nhà, ngoài các thứ trên còn đòi tiền mặt.

Ngày trước nhiều đám vì thách cưới quá nặng, nhà trai xin giảm không được đành phải hoãn lại; hoặc bỏ luôn không cưới nữa. Bây giờ đôi chỗ vẫn còn tình trạng này. Kể cả khi lo cưới xong, nhà trai vẫn không vừa lòng với nhà gái. Thành ra quan hệ hai nhà căng thẳng. Giải tỏa được còn phải chờ đợi thời gian.

Hủ tục này không đẹp. Đã “thách” là có sự đặt giá và trả giá như một cuộc mua bán. Làm vậy hóa ra đem con gái yêu của mình đi bán. Nếu nhà trai không cưới, con gái mình đã mang tiếng, thế là bị “mất giá” không đẹp đẽ gì.

Hiện nay có nơi yêu cầu tiền mặt, ít thì một hai triệu, có khi đến hàng chục triệu. Nên nhớ rằng con gái yêu của mình là vô giá. Cha mẹ nuôi dạy con nên người, chẳng lẽ chỉ có cái giá vài triệu bạc hay sao?

Họ quên một điều: Đây là hạnh phúc của đôi bạn trẻ và của hai nhà và hai họ. Không phải là việc mua bán ở chợ. Điều lớn hơn cần nhận rõ: Tất cả vì Hạnh Phúc của các con ! Hủ tục này cần phải bỏ.

Có ý kiến cho rằng chỉ cần một ít tiền mới, mệnh giá thấp để lấy “hên”. Như là tiền mừng tuổi vậy. Việc này, xét kỹ ra cũng có thể chấp nhận được. Ngày trước, có trường hợp, nhà gái không thách tiền của. Chỉ thử tài chàng trai bằng ra câu đối, làm thơ…để chàng trai ứng đối thể hiện “tài năng”.

Bây giờ việc chuẩn bị Sính Lễ đơn giản hơn nhiều. Thông qua cô gái, nhà trai có thể biết yêu cầu của nhà gái. Nên không cần thiết đưa ra bàn bạc trong Lễ xin cưới. Đây là vấn đề nhạy cảm và tế nhị. Nhà gái cũng ngại ngần không muốn nói ra. Nhưng để đáp lại ý kiến nhà trai, thiết tưởng nhà gái cũng có thể nói rõ chính kiến của mình. Đây cũng là nét ứng xử biểu hiện sự tôn trọng nhà trai. Mặt khác cũng là đồng trách nhiệm của hai nhà trước ngày thành thân của đôi trẻ. Nếu biết cách xử trí tốt, vừa mang tính Văn hóa, vừa thể hiện quyền chủ động của nhà gái. Vấn đề là cần đưa ra những yêu cầu hợp lý, thỏa mãn cả hai bên trong tình hình chung, mà mọi người đều chấp nhận. Ví như có thể yêu cầu các thứ trầu cau, rượu, bánh trái, chè thuốc…là những thứ không thể thiếu, nhưng với số lượng vừa phải. Làm thế chẳng ai có ý kiến gì. Cũng có thể yêu cầu một ít tiền mặt. Nhưng quan trọng ở chỗ đặt vấn đề hợp lý.

Kết hợp giữa cũ và mới, đại diện nhà gái có thể khéo léo đưa ra một yêu cầu:

Họ nhà gái chúng tôi không dám đòi hỏi nhiều, hai nhà chúng ta đều có trách nhiệm với các cháu. Vạn sự khởi đầu nan, chắc rằng các cháu ban đầu còn gặp nhiều khó khăn. Để giúp các cháu có chút ít vốn liếng làm ăn, chúng tôi yêu cầu nhà trai 500 ngàn đồng tiền còn mới. Các cháu mua con gà mái sao, đẻ chục trứng vàng ấp nở mười con, để vốn nhỏ đẻ vốn lớn rồi mua con lợn, con bò tiến tới ăn nên làm ra giàu sang phú quý”.

Nghe vậy chẳng ai có thể nói nhà gái thách tiền. Mệnh giá 500 ngàn đồng không có gì lớn. Cha ông ta từ xưa đã có tục “ra vốn” cho vợ chồng trẻ, một tập tục đẹp như chuyện mừng tuổi lấy “hên”. Mọi người đều biết số tiền ấy chẳng thể là vốn được. Những đồng tiền mới ấy như một động lực khích lệ ban đầu. Ai cũng thấy rằng đây chỉ là một tập tục đẹp, nhắc nhở vợ chồng trẻ phải tu chí làm ăn.

Nhiều đôi vợ chồng đã cất giữ đồng tiền ấy vào nơi trang trọng, cùng với các kỷ vật bố mẹ trao cho trong ngày cưới, sau này còn trao lại cho con cháu.

Bây giờ phần lớn nhà trai đều có phong bì, với đủ các loại mệnh giá tiền, gửi nhà gái trong lễ Nạp tài.

   4 – Lễ Nạp tài.

Sau Lễ xin cưới, nhà trai về chuẩn bị đồ Sính Lễ theo yêu cầu của nhà gái. Báo cho nhà gái biết thời điểm làm Lễ Nạp tài. Lễ này ngày xưa gọi là Nạp thái (Nạp tệ).

“ Định ngày nạp thái vu quy”

   (Truyện Kiều. Vu quy : Cô gái về nhà chồng).

Ngày nay ta gọi Lễ này là Nạp tài. Hai từ “Nạp tài” do nhân dân ta đặt ra. Từ “Nạp tài” không có trong Từ Điển Tiếng Việt. Hiện nay Lễ Nạp tài đã được nhân dân chấp nhận, nên trong Thiệp Mời đám cưới đều có ghi: Lễ Nạp tài tổ chức vào ngày… tháng… năm…

Lễ Nạp tài là lễ quan trọng nhất trong hôn nhân và cưới hỏi.

Lễ này ngoài trầu, rượu còn có các phẩm vật (Sính Lễ) nhiều ít, to nhỏ do hai nhà đã thống nhất với nhau.

Sính lễ trong Nạp tài, là vấn đề nhạy cảm và tế nhị. Nếu không được thống nhất trước, khi vào cuộc Lễ, có những tình huống bất ngờ xẩy ra, làm đôi bên khó xử. Đã từng có những tình huống như vậy. Nhất là ở vùng nông thôn. Các ông chú, bà bác, cô, dì, cậu mợ…bất ngờ đưa ra những yêu cầu, ngoài sự chuẩn bị của nhà trai. Làm cho không khí buổi lễ căng thẳng không cần thiết.

Ngày trước, nhà trai gánh đồ Sính Lễ và đội mâm đến nhà gái. Thành ra chưa có việc đặt ra 5 hay 9 hộp quả.

Qua nhiều cuộc, chúng tôi thấy nhà gái thường yêu cầu nhà trai: Có 5 đến 9 hộp quả. Có người hiểu nhầm, coi mỗi hộp quả là một Lễ, để cúng ông bà tổ tiên, bên nội, bên ngoại. Như vậ không đúng. Các hộp quả và mâm lễ ấy chỉ là đồ Sính Lễ của lễ Nạp tài.

Có trường hợp nhà gái còn yêu cầu nhà trai thắp hương cúng gia tiên nhà gái trong lễ nạp tài. Điều này sai hoàn toàn. Chỉ có con rể cùng cô dâu thắp hương bái gia tiên, trước khi lên xe hoa.

Đồ Sính lễ trong các hộp có: trà thuốc, một buồng cau, vài chai rượu, bánh trái (su sê – bánh cốm), mứt sen, hoa quả… Số lượng tùy nhà gái yêu cầu.

Tại sao số hộp quả lại lẻ? Điều này có căn nguyên từ quan niệm: Đời người ta trải qua các bước Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Trong đó Sinh là thể hiện sự phát triển mạnh mẽ nhất.

Trong xây dựng, khi đặt đòn nóc (Cây luồng ở gian giữa, hoặc thượng lương bằng gỗ) người ta đều tính mắt luồng hoặc thước tấc theo theo cách trên. Nếu là luồng phải chọn cây có 5 hoc 9 mắt làm đòn nóc. Mắt thứ 5 là Sinh, mắt thứ chín cũng là Sinh. Nếu là gỗ, tính theo thước Lỗ Ban.

Bởi vậy số lượng hộp quả hay mâm phải là 1 hay 5 hoặc 9. Số 1 tuy tốt nhưng vì nó quá ít, nên người ta thường chọn 5 hoặc 9 hộp quả. Số 5 và 9 đều rơi vào cung Sinh. Không được làm 7 hộp, vì số 7 rơi vào cung bệnh. Vô cùng xấu.

Thông thường chỉ cần 5 hộp là vừa. Nếu muốn hoành tráng có thể lên tới 9 hộp. Điều này không quy định cụ thể. Tùy theo yêu cầu của nhà gái.

Thực ra đây cũng là việc “Phú quý sinh Lễ nghĩa”. Tùy điều kiện, tùy hoàn cảnh mà thực hiện. Không nhất thiết phải đủ như trên. Chỉ cần một mâm Lễ cũng là đủ.

Hạnh phúc của vợ chồng đâu cứ phải tính bằng số hộp Lễ. Hộp quả Lễ không phải là thước đo của Hạnh phúc.

Người ta vẫn còn phân biệt: Đồ lễ mặn và đồ lễ chay. Đồ lễ mặn thường là: thủ lợn, mâm gạo nếp. Lợn sữa quay, mâm xôi. Hoặc cỗ xôi, con gà trống luộc. Bây giờ phần lớn nhà gái không yêu cầu cỗ mặn nữa. Ngày Nạp tài, nhà gái chuẩn bị xôi gà, cúng gia tiên trước khi nhà trai đến.

Có trường hợp nhà gái yêu cầu đơn giản: Chỉ cần có 5 hộp quả, hình thức đẹp (không cần biết ở trong có gì. Nói vậy thôi, nhà trai bao giờ cũng phải chu đáo).

Sính lễ nhất thiết phải có: Ngoài buồng cau, có ba đĩa trầu têm cánh phượng càng đẹp, ba be rượu để đặt lễ. Trường hợp có tiền, bỏ trong phong bì song hỷ mầu đỏ.

Ở thành phố, có dịch vụ làm việc này trọn gói từ A đến Z. Ngoài hộp quả, còn có một mâm đặt con lợn sữa quay vàng, cổ đeo dây, tai đeo vòng màu vàng và một mâm xôi!

Để làm đẹp, tem song hỷ dán vào từng quả cau, chiếc bánh, chai rượu…Các hộp quả được phủ khăn song hỷ mầu đỏ. Lá trầu không được kết thành hình quả tim. Lễ vật được xếp thành nhiều bậc cao vút lên (Nếu là bầy trên mâm), có giấy nhiều mầu, kết thành những bông hoa cắm trên mâm, trông rất đẹp mắt.

Bây giờ cả ba Lễ: Ăn Hỏi, Xin Cưới, Nạp Tài đều tiến hành trong một buổi. Trình tự diễn tiến như sau:

Khi đoàn nhà trai đến nhà gái, nhà trai cần dừng lại cách nhà gái một quãng ngắn, để chỉnh đốn và sắp xếp đội hình. Đi trước là vị chủ lễ cao tuổi; có uy tín, nói năng lưu loát. Tiếp theo là bố mẹ chú rể và chú rể, mẹ chú rể bưng một hộp con sơn son phủ khăn điều (có trầu, rượu). Rồi tiếp 5 đến 9 chàng trai tân, mặc quần áo đẹp, bưng đồ Sính lễ. Đoàn nhà trai trịnh trọng tiến vào nhà gái, gọi là Dẫn Lễ.

Nhà gái đứng trước cổng nhà (hoặc rạp) để đón.

Đứng sau vị chủ Lễ là bố mẹ cô gái cùng một số cô dì, chú bác. Nhà gái cũng có 5 đến 9 cô gái tân, đồng phục áo dài đỏ. Tay cầm sẵn phong bì lì xì, để trao cho các chàng trai. Khi đón các hộp quả, tay phải các cô gái đỡ dưới hộp và có phong bì, kín đáo trao cho các chàng trai. Lì xì chỉ bên nhà gái làm thôi. Nhiều nhà trai có làm phong bì lì xì, cũng được.

Các cô bưng hộp quả, hoặc cả trai và gái cùng bưng hộp quả vào đặt nơi trang trọng, thường ở phía dưới bàn thờ, hoặc trước phông trang trí. Chú ý bàn đặt đồ sính lễ phải cao hơn bàn khách một chút và phủ khăn đẹp. Có một lọ hoa tươi để ở giữa.

Hai họ ổn định vị trí, theo vai vế đối trọng trong giao tiếp.

Mở đầu Lễ: Chủ lễ nhà trai chào họ nhà gái và giới thiệu thành phần dự lễ: (Xin giới thiệu một gợi ý để tham khảo. Tùy tình hình vận dụng)

   “Kính thưa các cụ ông, cụ bà.

   Thưa toàn thể họ nhà gái cùng các vị quan khách.

   Trước hết xin thay mặt họ nhà trai kính chào họ nhà gái.

   Kính chúc toàn thể họ nhà gái mạnh khỏe, chúc cho tình cảm hai họ, hai gia đình thông gia mãi mãi tốt đẹp, chúc cho Hạnh phúc hai cháu bền chặt keo sơn.

   Xin phép được giới thiệu thành phần họ nhà trai chúng tôi gồm có: (Giới thiệu lần lượt vị trí từng người từ cao xuống thấp)”.

Chủ lễ họ nhà gái phát biểu:

   “Kính thưa họ nhà trai…..

   Họ nhà gái chúng tôi rất vui mừng cảm động và chân thành cảm ơn họ nhà trai. Thay mặt họ nhà gái, tôi xin phép được giới thiệu thành phần họ nhà gái tham dự buổi lễ hôm nay gồm có:……..

   Thưa quý vị! Được năm mưa thuận gió hòa, lại nhằm đúng mùa cưới hỏi của lứa đôi nam thanh nữ tú. Hôm nay trong không khí vui vẻ và nghiêm cẩn của ngày lễ trọng này, để hai nhà lo tác thành việc trăm năm và lo việc Hôn sự cho hai cháu. Xin kính mời họ nhà trai tiến hành các lễ.”

Trong phòng làm lễ, nếu có bàn thờ; chủ lễ họ nhà trai phải bầy tỏ lòng thành kính của nhà trai trước Tổ tiên nhà gái. Hai tay chắp lại, nghiêm cẩn hướng về bàn thờ trang trọng nói:

   “Kính cáo Gia tiên họ….(họ nhà gái) xin các vị liệt tổ liệt tông họ…, cho phép hai gia đình chúng tôi được tiến hành thực hiện nghi lễ hôn nhân của hai cháu:… được sự chứng giám của tổ tiên. Cung thỉnh cầu mong các vị phù hộ độ trì cho đôi lứa cầm sắt giao hòa, duyên ưa phận đẹp, trăm năm Hạnh phúc!”

Rồi quay ra nói tiếp:

   “Kính thưa các cụ ông, cụ bà cùng toàn thể đại diện họ nhà gái. Sau lễ dạm ngõ, hai gia đình chúng ta đã thống nhất chọn: Hôm nay được ngày lành tháng tốt, lại đúng giờ Hoàng đạo, để tiến hành các lễ trọng cho hai cháu nên duyên chồng vợ. Họ nhà trai chúng tôi có cươi trầu, chai rượu và đồ sính lễ, trước là để kính cáo gia tiên họ nhà gái, sau nữa là kính trình các cụ và ông bà thông gia chấp nhận các lễ.

   – Trước hết chúng tôi có chục trầu chai rượu xin đặt Lễ Ăn Hỏi:

   Xin phép họ nhà gái và ông bà… cho cháu… được về làm dâu nhà tôi, (hoặc nhà ông bà……) Và cháu… được làm rể họ ta và là rể của ông bà…..

   Kính mong nhà gái nhận lễ.”

Chủ lễ nhà gái hoặc bố, mẹ cô gái đáp từ:

   – “Kính thưa hai họ. Nhà trai đã chính thức xin cho cháu… nhà tôi về làm dâu ông bà, chúng tôi vui mừng và đồng ý. Cũng từ hôm nay chúng tôi chính thức chấp nhận cháu… là rể họ chúng tôi và cũng là con cái trong nhà của chúng tôi.”

(Đại diện hai họ trao và nhận trầu. Nhà gái đặt trầu rượu vào vị trí riêng. Để sau khi nhận đủ ba lễ mới đặt lên ban thờ)

Nhà trai đặt tiếp lễ thứ hai:

   – “Ông bà đã chấp nhận cho cháu… về làm dâu bên nhà chúng tôi. Vậy chúng tôi xin phép được đặt lễ thứ hai: Lễ Xin Cưới.

   Chúng tôi có chục trầu chai rượu cáo tổ tiên và trình ông bà cho phép chúng tôi làm lễ cưới và đón cháu… lên xe hoa vào hồi…giờ, ngày… tháng…năm. Địa điểm tổ chức cưới cho hai cháu tại….

   Nhân đây chúng tôi xin có lời trân trọng kính mời họ nhà gái và ông bà đến dự lễ thành hôn của hai cháu và chung vui niềm Hạnh Phúc của hai cháu, của hai họ và của hai gia đình chúng ta!”

Nhà gái đáp từ:

   – “Thưa hai họ, Lên xe hoa là ngày trọng đại của cháu… được ông bà và họ trai đã xem xét rất kỹ lưỡng. Nhà gái chúng tôi hoàn toàn tin tưởng và đồng ý cho cháu… xuất giá vào ngày giờ trên.

   Cảm ơn lời mời của ông bà, Đoàn nhà gái chúng tôi sẽ có mặt đông đủ trong lễ thành hôn của hai cháu”

(Đại diện hai họ trao và nhận trầu. Nhà gái đặt trầu rượu vào vị trí riêng. Để sau khi nhận đủ ba lễ mới đặt lên ban thờ)

Nhà trai đặt tiếp lễ thứ ba:

   – “Chúng tôi rất phấn khởi được ông bà đồng ý cho phép cháu… lên xe hoa vào ngày giờ trên. Vậy chúng tôi xin được đặt tiếp lễ thứ ba: Lễ Nạp Tài.

   Ngoài chục trầu chai rượu, chúng tôi xin trình mấy hộp qủa đồ Sính Lễ, gọi là tấm lòng thành của gia đình chúng tôi, trước hết là trình với tổ tiên họ nhà gái một chút lễ mọn, đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục cháu… nên người, để chúng tôi có được con dâu hiền thục hôm nay.

   Xin ông bà nhận cho.”

Nhà gái đáp từ:

   – “Chúng tôi rất cảm động trước lòng thành của ông bà. Là cha mẹ, chúng ta đều hết lòng vì con. Ông bà cũng đã nuôi dạy cháu… trưởng thành cho chúng tôi một chàng rể thảo.

   Chúng tôi xin được nhận đồ Sính Lễ này, trước là để cáo gia tiên, sau nữa để bà con trong họ ngoài làng biết con gái chúng tôi được về làm dâu ông bà.”

Nhà trai mở các hộp quả, để trao cho nhà gái. Hai nhà trao từng hộp một, trước tiên là hộp trầu cau, rồi đến hộp rượu chè thuốc…. Nhà gái đặt trầu rượu, lễ vật lên ban thờ, rồi thắp hương cáo gia tiên.

Quá trình tiến hành lễ, cô gái chưa có mặt. Sau khi nhận Sính Lễ, bà mẹ hoặc đại diện nhà gái mới đưa cô gái ra chào hai họ. Lúc này hai bạn trẻ mời hai họ xơi trầu, thuốc, nước thể hiện tình cảm cám ơn mọi người. Lưu ý phải mời từ người cao tuổi trước. Có thể cô gái mời bên nhà trai, còn chàng trai mời nhà gái.

Những lễ vật dẫn cưới này có ý nghĩa cao đẹp: Thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ và họ hàng nhà gái đã nuôi dạy cô gái nên người. Đồng thời cũng biểu thị sự quý mến, tôn trọng cuả nhà trai đối với cô dâu tương lai.

Sau Lễ Nạp tài, nhà gái cũng như nhà trai đem trầu cau mời khắp cả Làng. Báo cho mọi nhà biết và mời họ đến dự đám cưới. Bây giờ có Giấy mời thay cho mời bằng trầu cau.

Thông thường làm xong ba lễ trên (ba trong một! tuy là ba lễ nhưng chỉ làm trong một buổi), hai nhà mới chính thức đưa Giấy Mời và tổ chức ăn uống. Do đó ba lễ này phải tiến hành trước một tuần, hoặc có thể hơn. Ở Thành phố, nhiều nhà gửi Giấy mời còn kèm theo một túi nhỏ có vật phẩm của lễ Nạp tài (Chè thuốc, bánh, mứt …).

Thực tế có nhiều diễn biến khác. Vì điều kiện bất khả kháng, có thể đưa Giấy Mời trước, rồi làm lễ Nạp tài sau. Không nên câu nệ. Miễn sao đủ thủ tục là được. Điều cơ bản là Hạnh Phúc của đôi bạn tân hôn, đảm bảo tốt đẹp.

Tiến hành ba lễ này không nên kéo dài quá một giờ. Nhà gái nên tổ chức chu đáo, có tính Văn hóa, lịch sự. Hoa tươi trang trọng. Hai họ ngồi theo hai dãy, đối trọng vai vế. Đây là ứng xử có tính chất đối ngoại, thể hiện gia phong nề nếp. Nếu nhà trai ở xa, nhà gái có thể mời cơm thân mật. Nếu ở gần chỉ nên tổ chức tiệc trà. Hai họ giao lưu, bàn bạc thảo luận về ngày cưới, số lượng người nhà gái sang dự, phương tiên đi lại…Tạo không khí đầm ấm thân mật.

Sau khi nhận Sính lễ, nhà gái phân chia Sính lễ: Phần để cúng Nhà thờ Họ, cúng bàn thờ gia tiên nhà mình. Phần để cúng Nhà thờ bên ngoại. Tất cả thể hiện tấm lòng hướng về nguồn cội, kính cáo để Tổ tiên biết.

Nhà gái để một phần Sính lễ, lại quả cho nhà trai. Thông thường không quá 1/3. Khi trao lại hộp quả phải lật ngửa nắp hộp. Điều này thể hiện nhà gái đã nhận Lễ.

Tiến hành ba lễ Ăn hỏi, Xin cưới, Nạp tài, nên có một người dẫn chương trình (MC). Nhiều đám, do lần đầu thực hiện hoặc chuẩn bị chưa tốt, nên rất lúng túng. Buổi lễ chưa đạt yêu cầu. Cá biệt có khi để thời gian chết, hai họ ngồi nhìn nhau chẳng biết nói gì. Những lúc này vai trò MC tạo không khí đầm ấm, vui tươi. Đồng thời duy trì tổ chức các bước đạt yêu cầu. MC có thể của nhà gái, hoặc nhà trai đều được. (Hai bên cần thống nhất trước). Miễn sao đảm bảo chất lượng các Lễ tốt nhất.

Ba lễ Ăn hỏi, Xin cưới, Nạp tài, chỉ làm trong một bữa là được. Ba trong một! Không cần tách ra từng thời gian khác nhau như ngày trước. Vừa mất thời gian, vừa nhiêu khê không cần thiết. Khi mà nhịp điệu xã hội công nghiệp luôn khẩn trương. Người ta sử dụng thời gian sao cho hiệu quả nhất.

Nhà nào muốn duy trì cách thức của cha ông, tách ra từng lễ một như ngày trước, cũng không sao. Miễn là hai bên thống nhất cao

Điều không thể thiếu, vợ chồng phải làm Giấy đăng ký kết hôn. Ngày trước sau khi nhà gái nhận Lễ nạp tài, nhà trai biện một Lễ trầu rượu trình với các chức dịch trong Làng. Phải nạp tiền cheo theo quy định. Hương bạ vào sổ nhân khẩu để quản lý, mới được cấp tờ hôn thú. Khi ấy mới chính thức là vợ chồng.

Ngày nay chính quyền Xã, Phường cấp giấy đăng ký kết hôn. Theo luật định, phải sau một tuần công khai thông báo mới được cấp.

Nhiều nơi đơn giản, xem việc lấy Giấy đăng ký kết hôn là chuyện đương nhiên. Lấy lúc nào cũng được. Cá biệt có trường hợp cưới xong mới đăng ký. Như vậy không được. Bởi vì sau khi đăng ký, họ đã chính thức là vợ chồng về mặt luật pháp. Có thể vì điều kiện không tổ chức cưới được, họ vẫn là vợ chồng. Việc tổ chức cưới chỉ là thủ tục công khai cho mọi người biết mà thôi.

Vì vậy, việc lấy Giấy đăng ký kết hôn cần có kế hoạch cụ thể. Gia đình nhà trai chuẩn bị tốt việc này. Thông thường sau Lễ Xin cưới, Nạp tài, đôi bạn làm giấy đăng ký kết hôn.

Việc chính quyền trao giấy chứng nhận kết hôn trong lễ cưới, chưa nơi nào làm được. Nếu làm, phải tổ chức nghi lễ, như vậy sẽ làm khó cho chính quyền. Việc đặt hoa ở Đài tưởng niệm, Nghĩa trang Liệt sĩ trong lễ cưới như có nơi đã làm, theo chúng tôi chưa hợp lý. Tính chất hai việc khác nhau. Còn có nhiều lúc để tưởng niệm công lao của các liệt sĩ phù hợp hơn.
Tổ chức cưới là bước tiếp theo (thời gian dài ngắn tùy điều kiện) để công bố với Thiên hạ: Họ là một đôi vợ chồng !

Tổ chức “Bữa cơm thân mật” hai nhà có thể làm trước lễ cưới một hai hôm. Đây là dịp để họ hàng, bạn bè thân thiết xa gần đến chung vui với gia đình và mừng Hạnh Phúc của đôi trẻ. Bây giờ hai họ đều làm rạp, rất thuận tiện cho tổ chức ăn. Cần phải chú ý khâu tổ chức chu đáo. Gia chủ phải có mặt và có lời mời từng mâm. “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Cô dâu hoặc chú rể (nếu có mặt) phải đi cám ơn mọi người. Khi khách ra về, gia chủ đứng trước cửa rạp mời trầu thuốc và có lời cám ơn quan khách.

Ngày nay họ hàng, bè bạn không chỉ bó hẹp trong lũy tre làng nữa, đất nước ta đâu cũng là quê hương. Nhiều người phải qua một quãng đường dài từ vài chục cây số đến hàng ngàn cây số, vì trách nhiệm, vì nghĩa tình sâu nặng không thể thiếu được.

Từ xa về, ai cũng tề chỉnh trong bộ quần áo đẹp, hân hoan rạng rỡ; dấu đi nỗi mệt nhọc đường dài, ai cũng mừng vui góp phần vun đắp cho hạnh phúc đôi lứa. Thật xiết bao cảm động. Hạnh phúc lớn cho gia chủ, khi có được những khách quý như vậy. Trước khi khách xa ra về, gia chủ cần có quà kỷ niệm. Một chút lòng thơm thảo, gọi là của ít lòng nhiều gửi tới nơi xa, cũng là để người đi “ăn cưới” trở về báo hỷ cho mọi người biết.

Việc làm tuy nhỏ, giá trị chẳng đáng là bao; nhưng là thể hiện nét đẹp ứng xử trọn vẹn, một việc không thể thiếu trong đám cưới.

5 – Lễ đón dâu (Nghinh hôn). Đón dâu là Lễ cuối cùng trong hôn nhân và cưới hỏi.

Trước đây phải đủ sáu Lễ. Từng có câu: “Lục Lễ bất chí, trinh nữ bất hành”. (Sáu Lễ chưa đủ, gái trinh không đi).

Bây giờ không còn Lễ Vấn danh, chỉ cần 5 Lễ là đủ. Thành phần nhà trai đi đón dâu: Trưởng đoàn là người bề trên cao tuổi. Mẹ hoặc cô, dì của chú rể bưng một hộp quả nhỏ, có nơi mẹ không đi. Ở thành phố có nhà thuê một bà phúc hậu đi đón dâu. Trong hộp chỉ có một chục trầu xin dâu kèm theo chai rượu.

Cách đón tiếp của nhà gái cũng như các lễ trước. Nghi thức buổi lễ cũng theo thứ tự các bước đã làm. Sau khi nhà gái nhận trầu xin dâu, đặt lên bàn thờ thắp hương cáo gia tiên. Được bố mẹ cô dâu “cho phép”, chú rể mới được vào phòng trong trao hoa cho cô dâu. Hai người đến trước bàn thờ, thắp hương bái lạy tổ tiên trước khi lên xe hoa về nhà chồng. Vợ chồng chào bố mẹ và họ hàng trước khi lên xe hoa. Bố mẹ dặn hai con đường ăn nết ở sao cho trọn nghĩa vẹn tình.

Trước khi lên xe hoa, nhà gái trao của hồi môn, những người thân trao vật kỷ niệm. Có gia đình để đến hôn trường nhà trai trao luôn một thể. Vận dụng sao cho hợp lý đều được.

Cần tiến hành nhanh, cả quay video, chụp ảnh kỷ niệm với gia đình không nên quá 30 phút. Họ nhà gái nên bố trí đưa cô dâu đi bộ một quãng, rồi mới lên xe hoa. Gọi là Dẫn dâu. Thể hiện tình cảm quyến luyến, nghĩa tình sâu đậm. Dùng dằng nửa ở nửa đi mà! Cô dâu sụt sùi “Khóc như cô gái vu quy nhật!” (Khóc như cô gái ngày về nhà chồng!).

Thành phần nhà gái đưa dâu: Trưởng đoàn là người đại diện nhà gái, bố, mẹ, cô dì chú bác và một số bạn bè thân thích càng đông càng vui.

Ngày trước thường mẹ cô dâu không đi. Lý do vì tình cảm quyến luyến, hoặc do con gái bị ép buộc. Khi ở nhà trai, mọi người đang vui vẻ ở nhà ngoài, mẹ liền đưa cô gái trốn về nhà mình. Bởi vậy mẹ cô dâu không được đi nữa. Bố cô dâu cũng không đi, vì cho rằng con gái đã gả bán cho nhà người rồi.

Bây giờ hôn nhân tự nguyện, hai nhà, hai họ đồng lòng; ngày đưa dâu là ngày vui nhất. Bởi vậy cả bố và mẹ đưa dâu sang nhà trai, càng gắn chặt tình cảm hai nhà.

Khi về nhà trai, đoàn rước dâu nên dừng lại cách nhà vài chục mét. Vừa chấn chỉnh đội hình, vừa để ở trong chuẩn bị nghênh hôn. Ngày trước có pháo nổ giòn, bây giờ có nhạc vang lên rộn rã và pháo giấy, pháo điện long lanh sắc mầu.

Trong khi hai họ còn ổn định vị trí, mẹ chồng đón cô dâu vào trong nhà, trước là thắp hương bái gia tiên. Thực hiện nghi lễ Bái đường thành thân. Đây là nghi lễ thiêng liêng nhất. Tổ tiên chấp nhận cô dâu và chứng giám đôi trẻ là vợ chồng. Sau lễ này mới ra chào ông bà, chào họ hàng nhà chồng. Nếu là nhà thờ Tổ, sau khi thắp hương cáo Tổ tiên, ông Trưởng họ ghi tên cô dâu vào Gia phả dòng họ. Nếu là ngành thứ, thủ tục này có thể làm sau cũng được. Sau đó đưa vợ chồng trẻ vào buồng Hạnh phúc rồi mới ra Hôn trường.

Khi ra hôn trường chú rể và cô dâu ngồi ở khu vực trung tâm trước phông chính, có bàn dành riêng cho vợ chồng.

Cần bố trí đại diện hai họ ngồi ở khu vực trang trọng phía trên. Thể hiện trách nhiệm và tình cảm đối với hai con, đồng thời cũng là sự trân trọng đối với quan viên hai họ. Bố hoặc mẹ chồng cùng các người thân bên nhà trai trao vật kỷ niệm. Đại diện nhà trai hoặc Ban tổ chức cám ơn hai họ và tuyên bố kết thúc buổi Lễ.

Nghi lễ theo nếp Văn Hóa mới do Ban tổ chức điều hành. Cô dâu chú rể đi khắp lượt mời mọi người trầu thuốc, để tỏ lòng cảm ơn.

Buổi lễ nên diễn ra nhanh gọn. Ban tổ chức cần chọn nội dung cho phù hợp với từng đôi cho hợp cảnh. Không nên quá ồn ào và dài lê thê. Dài nhất không quá 45 phút.

Khi kết thúc vợ chồng đứng trước cửa rạp, mời trầu thuốc cảm ơn mọi người.

Sau khi cưới được hai hoặc bốn hôm, vợ chồng mang đồ lễ về thắp hương cáo gia tiên và vấn an ông bà, bố mẹ cô gái. Gọi là Lại mặt. Chữ gọi là Nhị hỷ hay Tứ hỷ.

Việc này là để cô gái thu dọn nốt đồ tư trang, bắt đầu một cuộc sống mới làm vợ, làm dâu.

Đồ lễ Lại mặt không quy định cụ thể. Xôi gà hoặc hoa quả, bánh trái đều được. Điều quan trọng là tấm lòng.

Ông bà, bố mẹ đang mong mỏi con, cháu gái mới xa nhớ lắm. “Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”. Huống chi là đã mấy ngày !!! Lần gặp mặt này để rồi mãi mãi con gái mình là con nhà người. Bây giờ vận dụng tùy hoàn cảnh cho phù hợp. Không nhất thiết phải làm. Nếu ở quá xa, có muốn cũng không thực hiện Lại mặt được.

Qua phong tục cưới một số nơi, có biến thể gia giảm chút ít cho phù hợp với từng địa phương. Chung quy lại, bây giờ cũng chỉ có ba lần nhà trai đến nhà gái đặt các lễ, trước khi cô dâu lên xe hoa. Như vậy chỉ cần ba lễ quan trọng: Chạm ngõ, Nạp tài (có lễ Ăn hỏi và Xin cưới) và Đón dâu là đủ.

II – GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG PHÁT SINH

   1- Gặp đám cưới khác. Ngày trước đám rước dâu phần lớn đi bộ. Nếu gặp đám cưới khác, hai cô dâu chỉ việc trao nón cho nhau. Điều này thực hiện dễ dàng, vì hai bên cùng đi bộ cả.. Ngày nay, phương tiện đi lại thuận tiện hơn nhiều. Nhưng ô tô là phương tiện chủ yếu. Khi gặp đám cưới khác, đương nhiên không ai dừng ô tô để trao nón. Người ta trao hoa tượng trưng, bằng cách ném ra ngoài xe một bông hồng. Quan niệm dân gian nếu gặp đám ma là “hên!”

   2- Qua cầu, đò, chợ, ngã ba, ngã tư…Do việc người ta quan niệm: “Trần sao âm vậy”. Những nơi này ở dương gian, phần lớn có người thu phí (mãi lộ). Vậy dưới âm cũng phải có. Bởi vậy qua những nơi này, người ta đều ném tiền thật. Theo chúng tôi chỉ cần ném mỗi lần 200 đồng (mệnh giá thấp nhất) là được. Không nên lãng phí. Đã có đám để khoe của, mỗi lần họ ném 10.000đ , thậm chí còn hơn. Làm vậy đáng trách hơn là khen.

   3- Về nhà trai không đúng giờ Hoàng đạo. Đương nhiên khi đón dâu về nhà chồng phải đúng giờ Hoàng đạo. Nhưng có nhiều tình huống xẩy ra ngoài ý muốn: xe hỏng, chờ tàu qua, mưa gió đường khó đi…Chắc chắn không về đúng giờ Hoàng đạo được. Lúc này vận dụng phép quyền biến trong hôn nhân. Cha mẹ chồng tạm lánh đi ít phút, ra sau vườn hoặc sang nhà hàng xóm. Đợi khi cô dâu và họ nhà gái vào yên vị mới trở về.

Phép quyền biến này lâu ngày trở thành tục lệ: Có nơi khi con dâu về nhà chồng, mẹ chồng mang bình vôi sang nhà hàng xóm, giả vờ đi vắng. Cho rằng như vậy là trao quyền chủ động cho con dâu !

   4 – Giờ Nhập phòng. Theo Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) giờ nhập phòng có liên quan đến việc sinh con. Giờ đại cát sẽ sinh được quý tử. Nhưng mấy ai chờ được giờ này! Thiên cơ bất khả lộ! Nhiều nhà còn cẩn thận, tìm người Phúc Lộc song toàn trải chiếu.

Những việc làm trên đây, có đúng không? Xin các vị kiểm chứng. Theo chúng tôi, chẳng qua cũng chỉ là phép giải tâm lí. Làm vậy chúng ta không còn phải băn khoăn, vướng bận một điều gì. Tinh thần thoải mái là điều kiện làm ta yên tâm trong cuộc sống. Nhưng không nên nhiêu khê…

   5 – Hôn trường. Bây giờ nhà gái cũng tổ chức dựng rạp, trang trí như bên nhà trai. Điều này rất tốt. Đây là ý gái cũng như trai, đều được tôn trọng và là niềm vui lớn của hai nhà.
Trang trí nên trang nhã, mang tính văn hóa. Có hoa tươi, cây cảnh tạo không gian tươi mát. Hình thức đẹp.

Sử dụng nhạc “sống” và băng đĩa nên hợp lý. Những ngày có đám, nhạc không được quá 22 giờ và chỉ mở nhạc trước 6 giờ sáng. (Không làm ảnh hưởng tới cộng đồng, một hành vi Văn hóa trong ứng xử). Âm lượng vừa phải, đủ nghe. Không nhất thiết tăng hết cỡ. Gây phản cảm cho người dự và cộng đồng. Tiêu đề ở cổng rạp nhà trai treo “Nghênh hôn nghenh_hon” (Đón dâu). Nhà gái treo “Vu quy vu_quy” (Về nhà chồng). Còn “Vui tân hôn” có thể treo ở cả hai đám giống nhau đều được.

Phông chính cần trang trí gọn, chữ phải đẹp, chim phải ra chim, chữ song hỷ phải đúng (có nơi treo chữ Song Hỷ lộn ngược, có thể vì không thạo chữ nho; hoặc lại học cách treo chữ PHÚC phuc_nguoclộn ngược của người Tàu, như vậy là sai!) . Điều này phụ thuộc vào các “Công ty” dịch vụ trang trí. Ngoài hoa tươi ở bàn và chỗ cô dâu, chú rể ngồi; cần bài trí thêm cây cảnh, tạo không gian tươi mát sinh động. Có ý kiến đề xuất bỏ chữ “Song Hỷ”. Cho rằng là của Tàu! Theo chúng tôi vẫn dùng chữ “Song Hỷ”. Quá trình lịch sử, hai chữ này đã Việt hóa. Nhìn thấy nó ai cũng biết là đám cưới.

Về xuất sứ của hai chữ Song Hỷ. (Song song là hai), (Hỷ hy là vui). Hai chữ Hỷ viết liền nhau ( song_hy) đọc là Song Hỷ.

Chuyện rằng vào thời Tống (Trung Hoa), Vương An Thạch (1021- 1086) lên kinh đi thi. Khi qua cổng nhà họ Mã ở một thị trấn, ông thấy chăng đèn kết hoa sáng rực. Nhà họ Mã mở hội kén chồng cho con gái. Ông dừng lại xem, thấy treo một chiếc đèn kéo quân rất lớn. Cạnh đó là một vế đối:

Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.

tau_ma_dang-dang_tau_ma

(Nghĩa: Đèn kéo quân, quân chạy nhờ đèn, đèn tắt quân mã dừng chạy). Ai đối được, họ Mã gả con gái cho.

Vì vội đi thi, ông tự nhủ để khi trở về xem sao. Vào trường thi, ông làm bài rất nhanh, nộp quyển trước khi hết giờ khá lâu. Quan chủ khảo biết ông là người tài, bèn giữ lại; đến trước sân trường chỉ vào lá cờ có ba chữ đề: “Phi hổ kỳ: ”. Quan chủ khảo ra luôn một vế đối:

Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.

phy_ho_ky-ky_phi_ho

(Nghĩa: Lá cờ thêu hình con hổ, hổ bay được nhờ có lá cờ, cờ cuộn lại thì hổ thu mình)

Vương An Thạch chẳng cần suy nghĩ, ông đọc luôn vế đối của nhà họ Mã. Quan chủ khảo thấy đối chỉnh quá, hết lời khen ngợi.

Trên đường trở về, ông ghé vào nhà họ Mã, xin được đối vế đối chưa ai làm được. Ông viết ngay vế đối về lá cờ của ông chủ khảo Trường thi. Câu đối rất chỉnh và hay, lại được nét chữ tài hoa của ông như rồng bay, phượng múa. Họ Mã liền gả con gái cho ông.

Lễ cưới được tiến hành ngay. Trong lúc cô dâu chú rể đang lễ tạ trời đất, bái đường thành thân; có chiếu chỉ của Triều đình: Vương An Thạch đỗ đại khoa, được nhà vua triệu về cung dự yến.

Nhà họ Mã vô cùng sung sướng, liền mở đại tiệc. Vương An Thạch một lúc có hai niềm vui. Vừa đỗ đại khoa, vừa lấy được vợ. Ông cảm hứng viết lên giấy hoa tiên hai chữ Hỷ liền nhau, treo tước cửa lớn. Hai chữ Hỷ viết liền nhau được đọc là “Song Hỷ”. Vương An Thạch sau làm tới chức Tể Tướng đời Tống. Từ đó hễ có đám cưới là người ta đều viết chữ “Song Hỷ”. Nhưng là ý chỉ: Niềm vui của hai người, của hai gia đình và của hai họ.

Bây giờ nhờ Công nghệ Tin học và máy in phun cỡ lớn, nhiều đám treo một phông to cỡ 2m x 3m có ảnh cô dâu chú rể, một bên mặc y phục cổ truyền, một bên mặc y phục hiện đại. Ở giữa là tiêu đề “Vui tân hôn” hoặc “Lễ vu quy”. Có lẽ là mốt thịnh hành hiện nay, đang được thanh niên ưa chuộng.

Các “Công ty dịch vụ đám cưới” nên nghiên cứu sử dụng cho hợp lý. Thể hiện “Đậm đà bản sắc dân tộc”. Mặt khác, các gia đình cũng cần đặt ra yêu cầu cụ thể. Không nên phó mặc các Công ty làm gì cũng được. Mỗi đám có nét riêng, không thể cùng một khuôn như nhau.

Bây giờ kinh tế ngày càng dư dật, xu hướng phải thật hoành tráng trong đám cưới ngày càng tăng: Rước dâu phải là đoàn xe “khủng” với giá mỗi xe tiền tỷ. Tổ chức phải là khách sạn 5 sao! Dựng sân khấu lộng lẫy, không thua một đêm gala nhạc tầm cỡ quốc gia. Ánh sáng lade nghệ thuật choáng mắt với đủ mầu sắc. Pháo điện lung linh, rượu rót tràn ly năm bảy tầng khói bay mù mịt… Dẫn chương trình phải là những MC có hạng của nhà đài danh tiếng! Hợp đồng với những ca sĩ là “ông hoàng, nữ hoàng ca nhạc”. Những chiếc loa thùng cỡ bự mở to hết công suất. Có cả những vũ công áo quần thiếu vải, minh họa cho những điệu Rock – Rap.

Tiếp khách phải là những món ăn đặc sản, chỉ thiếu lưỡi chim đại bàng; nếu có, thì người ta cũng sẵn sàng đãi khách! Khách mời dăm bảy trăm, thậm chí hàng ngàn người!

Như vậy, mới được xếp hạng top ten đẳng cấp!!!

Trước năm 1975, trong đám cưới bao giờ cũng có câu khẩu hiệu: “Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ”. Có đám cưới treo hai bên câu:

“ Tình đồng chí trọn đời theo lý tưởng

Nghĩa vợ chồng chung thủy suốt trăm năm”.

Thời ấy, đại biểu chính quyền và cơ quan, còn lên phát biểu ý kiến giao nhiệm vụ. Hai gia đình lên dặn dò với nội dung việc nước, việc nhà phải trọn vẹn. Bây giờ nhìn lại khó mà chấp nhận! Đó là thời cả nước tập trung mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến. Nhiệm vụ chính trị được đặt lên hàng đầu trong tất cả mọi việc. Ta có quyền tự hào về một thời như thế!

Đám cưới ngày nay không ai phát biểu nữa. Hoàn toàn giao cho người dẫn chương trình. Vai trò MC rất quan trọng. Tạo không khí sôi nổi, vui tươi của ngày Hạnh phúc. Nhiều MC dẫn chương trình còn lạm dụng, một số ngôn từ thiếu trong sáng; thậm chí khoa trương quá mức. Có đám kéo dài hàng tiếng đồng hồ, quan khách rất mệt mỏi. Chỉ độ 30 đến 45 phút là vừa. Chủ nhà cần bàn bạc cụ thể với MC, những nội dung theo yêu cầu. Khi kết thúc, cô dâu chú rể phải đứng ở cổng rạp cảm ơn quan khách. Có thể mời trầu thuốc.

Trang phục của cô dâu chú rể phải đẹp, lịch sự phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc. Không nên cầu kỳ, áo dài truyền thống duyên dáng Việt nam tôn thêm vẻ đẹp cô dâu…
Ở Sài gòn và Nam bộ, cô dâu chú rể thay trang phục ba lần trong đám cưới.. Xu hướng phổ biến hiện nay, cô dâu mặc áo cưới kiểu phương Tây. Đó là sự giao lưu văn hóa cần thiết. Nhưng cũng có thể mặc áo dài truyền thống, nét đặc trưng duyên dáng của phụ nữ Việt nam.

Đã hơn một thập kỷ, cơ bản không còn tiếng pháo trong đám cưới và Lễ, Tết. Xung quanh vấn đề này cũng còn nhiều ý kiến. Tựu trung lại cần có giải pháp sao cho hợp lý.

Tết, Lễ hội, Cưới hỏi là việc vui. Từ trước đã không thể thiếu pháo đùng. Xác pháo như cánh hoa đào ngày xuân, trải thảm hồng trên mặt đất. Càng làm cho cuộc vui thêm lãng mạn, cuốn hút làm say đắm lòng người. Cô dâu về nhà chồng bước trên thảm xác pháo và tiếng nổ ròn rã, ghi một dấu ấn không phai mờ của ngày đầu trong Hạnh phúc trăm năm. Quan khách cũng ngất ngây được đắm chìm trong ngày vui của đôi bạn trẻ.

Mấy năm qua, đã có nhiều cách tạo nên tiếng nổ mà không dùng pháo. Trước cổng hôn trường, người ta kết vài trăm quả bóng bay, san sát bên nhau. Mỗi cụm bóng có một người cầm hai que kéo mạnh trên các quả bóng tạo tiếng nổ. Kể cũng vui tai, nhưng làm sao bằng tiếng pháo nổ và mùi đặc trưng của thuốc pháo.

Bây giờ có pháo điện lung linh, pháo giấy bắn ra vụn giấy nhiều mầu sắc, tạo một không gian óng ánh huyền ảo đẹp mắt. Trong không gian ấy, nếu có thêm tiếng nổ của pháo đùng, càng ấn tượng biết bao! Nên có cách quản lý hợp lý, để vẫn có tiếng pháo và sự an toàn.

Đã cấm pháo, sao không cấm rượu? Ai cũng biết rượu là thứ dễ gây nghiện, chỉ sau ma túy. Chưa bao giờ rượu được sử dụng nhiều như hiện nay. Nhà nhà nấu rượu, người người uống rượu. Nấu rượu còn được xem như biện pháp kinh tế, một cách làm ăn xóa đói giảm nghèo!

Trong làng xóm, khu phố; bây giờ có hàng chục nhà nấu rượu. Nhất là khi rượu ngoại bị làm giả như hiện nay. Nhu cầu rượu nút lá chuối lại càng gia tăng.

Có lẽ chưa ai thống kê, xem số gạo hàng năm dùng cho nấu rượu là bao nhiêu. Nếu số gạo ấy đưa vào xuất khẩu tăng thêm ngoại tệ, sẽ giảm đi những hệ lụy sau rượu.

Những bi kịch gia đình về rượu, những cuộc rượu “xếch” trong lớp trẻ; những cuộc vui thâu đêm bên chiếu rượu… để rồi sau đó là cải vã, xô sát. Gia đình tan nát. Thậm chí giải quyết bằng gậy gộc và dao kiếm.

Trong chương mục An toàn giao thông, thống kê cho biết trên 50% tai nạn do người điều khiển phương tiện trong tình trạng say rượu, bia gây ra.

Hãy nghiêm túc làm một phép thống kê xã hội học về rượu, hậu quả của rượu chắc chắn không làm ta vui lòng. Ấy là chưa kể, rượu để lại biết bao di chứng, bệnh tật: ung thư gan, thủng dạ dày, viêm thận… Chắc chắn số người chết về rượu còn cao hơn tai nạn về pháo.

Đương nhiên người uống, nhiều hơn người nấu. Có người còn đưa ra một công thức “khoa học”: Rượu là cao gạo! Cao là chất tinh túy, không biết uống rượu là một thiệt thòi lớn! “Nam vô tửu như kỳ vô phong” (Nam không có rượu như cờ không có gió). Bây giờ nhiều bậc nữ nhi cũng là những đệ tử cao thủ của ngài Lưu linh trong làng “Cuồng tửu”.

Người ta sử dụng rượu triền miên sáng trưa, chiều, tối. Uống hết ngày dài đến đêm thâu. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông lúc nào cũng không thể thiếu rượu. Có thể nói hiện nay dân ta đang bơi trong biển rượu.

Trong khi pháo chỉ có ở các dịp Lễ, Tết và Cưới hỏi. Thời gian dùng pháo qua đi rất nhanh.

Ấy thế mà chưa có một văn bản nào cấm rượu, như cấm pháo?

   6 – Cưới chạy tang: Khi trong nhà có người ốm nặng, xem ra khó qua khỏi; cần phải xem xét đánh giá đúng tình hình, để có quyết định kịp thời. Tốt nhất là tổ chức khi người bệnh còn khả năng sống một thời gian ngắn vài ba ngày đến một tuần. Tình thế bất khả kháng, một trong hai nhà có người mất. Nếu để lại, sẽ mất thời cơ. Tang chế phải một đến ba năm rất dài. Để hợp lý, buộc phải tổ chức cưới, gọi là cưới chạy tang. Bấy giờ vận dụng phép quyền biến để giải quyết.

Ngày trước khi có người mất, không phát tang ngay. Đưa người mất vào nơi kín đáo. Rồi tiến hành tổ chức cưới ngay. Lúc này không thể chọn ngày, chọn giờ. Sử dụng phép quyền biến trong hôn nhân.

Nếu là nhà trai, khi dâu về thắp hương cáo gia tiên xong là phát tang. Nếu ở nhà gái, cô dâu lên xe hoa ra khỏi nhà thì phát tang.

III NÉT ĐẸP VĂN HÓA TRONG CƯỚI HỎI

Hôn nhân và Cưới hỏi là một tập tục đẹp được đúc kết từ lâu đời. Mỗi giai đoạn, mỗi vùng miền lại bổ sung cho phong phú và hoàn chỉnh hơn. Thể hiện sâu sắc tính Văn hóa và đậm chất Nhân văn của người Việt trong nền văn minh lúa nước. Văn hóa Cưới hỏi có một bản sắc riêng của dân ta.

Trầu cau là hai thứ lễ vật không thể thiếu trong bất cứ một đám cưới nào. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh là hình ảnh đẹp về tình cảm vợ chồng. Còn sự quấn quýt nào gắn bó hơn dây trầu quấn quanh cây cau, bên cạnh tảng đá vôi vững chải.

Đôi má ửng hồng khi say miếng trầu nồng thắm, với làn môi đỏ và ánh mắt long lanh của hai người yêu nhau. Họ nhìn nhau ngất ngây thay cho ngàn vạn lời có cánh. Hạnh phúc nào bằng những phút giây như vậy! Chính thế Truyện Trầu cau vẫn luôn sống và trẻ mãi qua bao thế hệ.

Đôi bánh “Phu Thê – chồng vợ” (còn có tên khác là su sê) đặt trên mâm quả, là sự viên mãn tròn đầy của đôi chồng vợ phận đẹp duyên ưa. Bánh được làm từ bột gạo nếp trắng nuột nà, sản phẩm của lúa nếp cái hoa vàng ngát hương. Nhân đậu xanh vàng óng ả, nhuyễn với vị ngọt đường cát và sợi cùi dừa mảnh mai, để lại một dư vị đặc biệt cho những ai có vinh dự được có mặt trong ngày thành thân của đôi tân hôn.

Điều ý nghĩa hơn, chiếc bánh tròn vo, lại được hai khuôn vuông úp chặt; vừa thể hiện quan niệm trời tròn đất vuông của ông cha ta về vũ trụ, gói trọn những đặc sản quê hương; vừa nói lên tình cảm vợ chồng hiểu nhau tận chân tơ kẽ tóc và thương yêu đến trọn đời:

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn”. (Truyện Kiều)

Trang phục trong lễ cưới là một nét văn hóa đẹp, những bộ trang phục trong ngày cưới bao giờ cũng mới, đẹp hơn trang phục ngày thường.

Xưa kia, bộ trang phục cô dâu mặc trong ngày cưới cũng chính là trang phục các cô mặc trong những ngày lễ hội cổ truyền của dân tộc.

Các cô dâu miền Bắc thường mặc bộ áo mớ ba, ngoài là chiếc áo the thâm, trong ẩn hiện hai chiếc áo màu hồng và màu xanh hoặc màu vàng với màu hồ thủy. Rồi đến áo cánh trắng, cuối cùng là chiếc yếm đào có dải lụa bạch. Hai chiếc thắt lưng bằng lụa màu hoa đào, hoa lý; ngoài cùng thắt lưng sồi xe hay vải sa màu đen, cả ba thắt lưng đều có tua ở hai đầu.
Trang điểm mái tóc đơn giản, chỉ là vấn khăn, đầu khăn gài chiếc đinh ghim, đính con bướm vàng chạm bạc, tóc để đuôi gà. Lúc đưa dâu, đi đường đội nón thúng quai thao (chủ yếu là để che mặt cho đỡ thẹn với mọi người). Chân đi dép cong. Ðồ trang sức có khuyên đeo tai bằng vàng hoặc bằng bạc, cạnh sườn đeo bộ xà tích, con dao, ống vôi… bằng bạc chạm trổ tinh vi.

Cô dâu miền Trung cũng mặc áo mớ ba, trong cùng là áo màu đỏ hoặc hồng điều, áo giữa bằng the hay vân tha màu xanh chàm, áo ngoài cùng bằng the hay vân tha màu đen. Có người chỉ mặc lồng hai áo, trong cùng là áo màu đỏ hoặc hồng điều, ngoài là vân tha màu xanh chàm để tạo nên hiệu quả một màu tím nền nã nét đặc trưng của cô gái Huế. Mặc quần trắng, đi hài thêu. Tóc chải lật, búi sau gáy. Cổ đeo kiềng hoặc quấn chuỗi hột vàng cao lên quanh cổ. Tay đeo vòng vàng, xuyến vàng…

Trang phục của cô dâu miền Nam, là bộ áo dài gấm, quần lĩnh đen, đi hài thêu. Tóc chải lật, búi lại và cuốn ba vòng phía sau đầu, gài lược “bánh lái” bằng đồi mồi hoặc bằng vàng, bạc. Có người cài trâm vàng, đầu trâm có lò xo nhỏ gắn một con bướm bằng vàng hay bạc tạo nên một độ rung, như bướm bay tăng thêm phần sinh động và thẩm mỹ. Ðeo dây chuyền nách (xà nách) bằng vàng, chuỗi hột vàng ở cổ…

Trang phục của chú rể ở cả ba miền đều giống nhau, thường thì mặc áo thụng bằng gấm hay the màu lam, quần trắng ống sớ, búi tóc, chít khăn nhiễu màu lam. Chân đi văn hài thêu.
Đầu thế kỉ XX, ở thành thị miền Bắc, cô dâu mặc áo dài. Ngoài là chiếc áo the thâm, bên trong, áo màu hồng hay xanh… hoặc ngoài là chiếc áo dài sa tanh đen, bên trong áo dài lụa trắng. Mặc quần lĩnh hay sa tanh đen. Chân đi văn hài thêu hạt cườm hay đôi guốc cong. Vấn khăn nhung đen, đeo hoa tai, cổ đeo vòng chuỗi hột bằng vàng.

Chú rể mặc áo the thâm, áo dài trắng bên trong. Quần trắng ống sớ, đi giày Gia Ðịnh, đội khăn xếp. Lúc làm lễ tơ hồng, lễ nhà thờ thì khoác thêm áo thụng lam.

Vài năm sau đó, các cô dâu con nhà giàu mặc áo thụng bằng gấm màu đỏ hoặc màu vàng… có họa tiết rồng phượng, cánh tay áo dài và rộng. Mặc quần trắng, đi giày vân hài bằng nhung màu đỏ hoặc màu vàng hay lam có thêu rồng, phượng bằng hạt cườm hay chỉ kim tuyến lóng lánh. Ðầu đội khăn vành dây bằng nhiễu, màu lam hay vàng quấn nhiều vòng quanh đầu. Trang phục như trên thường được coi là kiểu “hoàng hậu” phổ biến từ miền Trung ra tới miền Bắc. Có cô dâu mặc áo dài bằng vải mình khô hoa ớt hoặc gấm hoa, sa tanh, hay nhung đỏ… quần lụa trắng. Vấn khăn vành dây, cổ đeo kiềng hay dây chuyền. Tay đeo xuyến, vòng.

Về sau này, do những thay đổi về xã hội, văn hoá phương Tây du nhập vào Việt Nam đã tạo nên những biến đổi trong lối sống của người Việt. Trang phục và trang sức cũng như trang điểm, ở miền Bắc đã tiếp thu một số hình thức châu Âu: Cô dâu trang điểm son phấn, cài thêm bông hoa hồng trắng bằng voan ở ngực trái, tay ôm bó hoa lay ơn trắng, tượng trưng cho sự trong trắng.

Trang phục của chú rể thì đơn giản hơn, mặc com-lê, thắt cra-vát hoặc cài nơ ở cổ, đi giày da. Ở ngoại thành, cô dâu mặc theo lối cổ truyền áo dài cài cúc, quần lĩnh đen. Chú rể mặc áo the, quần trắng, đội khăn xếp.

Sau năm 1945, nhiều nghi thức, trang phục lễ cưới đã lược bỏ đi nhiều. Ở thành thị, cô dâu mặc áo dài màu trắng hoặc các màu sáng, nhạt, quần trắng, đi giày cao gót, tay ôm hoa lay ơn, tóc phi dê hoặc chải bồng cặp tóc. Trang điểm má hồng, môi son. Chú rể mặc com lê, thắt cravat, đi giày. Còn ở nông thôn, cô dâu thưòng mặc áo sơ mi trắng hoặc áo cánh trắng hay áo bà ba, quần đen, đi dép mới. Chú rể mặc áo sơ mi mới, quần Âu, đi giày, xăng đan hoặc dép nhựa. Bộ đội vẫn có thể mặc bộ quân phục, cán bộ thì mặc quần áo đại cán mới, tóc chải gọn gàng.

Ngay từ xưa, các cô dâu đã ý thức được việc làm đẹp trong ngày cưới. Trang phục cưới chính là phần được coi trọng nhiều nhất. Trải qua những diễn biến lịch sử, trang phục cưới có nhiều thay đổi. Nhưng nhìn chung, những trang phục cưới của những năm trước năm 1945 ít nhiều vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống Á Ðông, nét đẹp chưa bị ảnh hưởng nhiều của văn hoá phương Tây. Xem ra bây giờ khác xưa nhiều lắm!

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển, sự cưới ở thành phố và nông thôn có khác nhiều so với ngày trước. Khoảng cách này xem ra ngày càng rộng ra. Nét đẹp trong Văn hóa cưới hỏi ở nông thôn vẫn còn đậm đà tính dân tộc hơn.

Không khí đầm ấm, chạy qua chạy lại; ai cũng một tay xúm xít lo cho gia chủ. Các bà, các mẹ bỏm bẻm nhai trầu, ngồi têm những miếng trầu cánh phượng; trên môi còn vương nước cốt trầu, rì rầm ôn lại chuyện duyên xưa.

Các ông ngồi rít thuốc lào, ngửa cổ nhả khói mù mịt và oang oang bên chiếu tổ tôm. Thỉnh thoảng lại quay ra nhắc nhở thanh niên phải làm việc này việc nọ.

Ngoài sân mấy bác lực điền nói cười rôm rả đang tập trung mổ lợn, giết gà lo cho mâm cỗ thịnh soạn, thể hiện tấm lòng quý khách của chủ nhân.

Con trai con gái thì tíu tít chạy ra chạy vào, dựng rạp kê bàn, miệng phì phèo thuốc lá thỉnh thoảng cười ré lên và đấm lưng nhau thùm thụp. Có nhiều đôi nên duyên, nên phận qua những lần gặp mặt này.

Những cô gái một con, trông mòn con mắt, cùng những ông bố trẻ; bằng kinh nghiệm đã trải, lo toan kê giường, trang trí phòng cưới, lòng hồ hởi vì vui duyên bạn, đầm ấm thêm duyên mình.

Những đứa trẻ chạy lon ton, mắt tròn như hạt nhãn, ngước nhìn cô dâu chú rể cười mãn nguyện trên ảnh cưới, vừa ăn kẹo mút vừa bi bô tập nói trông thật dễ thương.

Mọi người đều bận rộn không ngơi tay, ai cũng muốn góp một phần vun đắp cho khóm măng non vươn lên mọc thẳng, vững chải trước phong ba được che chắn và thêm ấm áp bụi tre già.

Đâu có được những cảnh ấy giữa một không gian ồn ả, náo nhiệt chốn thị thành. Nhà hàng khách sạn làm cả mọi việc. Tất cả tập trung giải quyết ở khách sạn, từ nạp tài đến lễ cưới đều gọn trong một buổi. Khách đến vừa ăn, vừa “dự” lễ cưới của đôi trẻ. Khách ngồi chung mâm nhưng chẳng biết về nhau. Người ta chóng vánh để hoàn tất thủ tục mừng gia chủ. Ấy là chưa kể trong bữa tiệc có những vị khách không mời mà đến. Nhà trai thì tưởng đó là khách của nhà gái, và ngược lại thật trớ trêu.

Quá trình cưới hỏi là một tổng thể chặt chẽ. Mỗi Lễ có một nội dung riêng biệt, liên kết lại gắn bó mật thiết với nhau. Lễ nọ làm tiền đề và tiếp nối cho Lễ kia, không thể bỏ lễ nào.
Lễ chạm ngõ là buổi ban đầu hai gia đình biết nhau, đồng ý cho đôi trẻ được đi lại để tìm hiểu, không những cuộc sống đôi lứa, mà còn hiểu tông chi họ hàng, quan hệ thứ bậc để có mối ứng xử cho đúng đạo lý. Tiến hơn một bước, Lễ Ăn hỏi chính thức đặt vấn đề nghiêm túc, hệ trọng của cả một đời người. Hai nhà tác thành cho đôi lứa. Cũng từ đây mối quan hệ hai nhà và đôi bạn khăng khít hơn. Đây là thời kỳ quá độ, “dự bị” chuyển thành những người con chính thức.

Đến độ chín muồi, nhà trai đặt Lễ Xin cưới định thời gian, ngày lành tháng đẹp đón con dâu. Được nhà gái chấp nhận, nhà trai mới đem Sính Lễ đến Nạp tài. Sính Lễ là thể hiện tấm lòng chân thành quý mến của nhà trai đối với nhà gái, đã có công nuôi con nên người; đồng thời cũng là thông điệp chính thức thông báo ngày họ thành thân nên vợ nên chồng.
Vừa tiếp thu cái đã có của cha ông để lại, vừa sáng tạo cho phù hợp. Trước đây Lễ Nạp thái đem sính lễ đến nhà gái. Nghe chữ nghĩa quá! Chúng ta đã Việt hóa thành Lễ Nạp tài được dùng phổ biến hiện nay.

Đoàn Dẫn Lễ của nhà trai khi tiến vào nhà gái trong lễ Nạp tài, thật trang trọng! Sau ông chủ hôn và các vị cao tuổi là các chàng trai tân đội lễ vật, tất cả tạo nên một không gian hoành tráng; thể hiện tấm lòng trân trọng của nhà trai đối vời nhà gái. Nhà gái niềm nở trịnh trọng, tay bắt mặt mừng. Cả hai bên đều hành xử văn hóa giao tiếp, truyền thống tôn trọng nhau, nét đẹp trong Văn hóa ứng xử của người Việt chúng ta.

Đoàn Rước dâu là một trạng thái đan xen về tình cảm. Nhà trai thì hớn hở đón nhận. Nhà gái thì bịn rịn chia tay, buồn vui lẫn lộn. Cái buồn của một niềm vui lớn! Nước mắt lưng tròng của người mẹ, dòng lệ dài của con gái và sự lặng thầm của ông bố làm cho mọi người cảm động biết chừng nào. Nhưng cô gái khóc trong niềm vui, tự nguyện dứt áo ra đi tới một chân trời mới, một cuộc sống mới!

Lại mặt! Khen cho ai đã khéo dùng từ này để chỉ một Lễ vô cùng ý nghĩa. Lại mặt chứ không phải là nhị hỷ, tứ hỷ như người Trung quốc, nghe có vẻ chữ nghĩa. Lại mặt, một từ dân dã dễ đi vào lòng người và cũng thực chất hơn: Vợ chồng lại có mặt để vấn an ông bà, cha mẹ và gia đình họ tộc, cũng là dịp làm rõ hơn mỗi gia đình từ nay có thêm một người con.
Từ buổi đầu chạm ngõ đến hôm lại mặt là cả một thời gian dài ngắn khác nhau cho từng đám cưới. Chung quy lại các lễ ấy có đầu có cuối, thể hiện sự keo sơn gắn bó, trước sau như một, nét đẹp trong truyền thống trong Văn hóa đối nhân xử thế của người Việt Nam.

    Về đám cưới bạc, cưới vàng.

Bây giờ đời sống được nâng cao. Tuổi thọ của người Việt tăng lên. Nhiều đôi ông bà “song thọ” vượt qua tuổi “cổ lai hy: xưa nay hiếm”. Đây là Phúc lớn không những của các cụ, mà còn là của con cháu trong đại gia đình. Việc tổ chức đám cưới vàng, cưới bạc làm vui lòng các cụ, cũng là niềm tự hào của cháu con. Tục này có ở phương Tây, chúng ta tiếp thu cũng là điều nên làm.

Nước ngoài có nhiều hình thức kỷ niệm ngày cưới, từ năm thứ hai trở đi có tên gọi khác nhau. Ví như 5 năm là cưới gỗ, 10 năm là cưới thiếc, 15 năm là cưới sứ, 20 năm là cưới pha lê, 25 năm là cưới bạc, 30 năm là cưới ngọc, 40 năm là cưới ngọc lục bảo….

Chúng ta nên tổ chức “cưới” cho các cụ vào các mốc: 25 năm cưới bạc, 50 năm cưới vàng. Nếu được 80 nămcưới gỗ sồi!

Đám “cưới” này chủ yếu do con cháu tổ chức. Hình thức kỷ niệm một dấu mốc quan trọng trong cuộc sống của đôi vợ chồng già. Con cháu và bạn bè có quà mừng chúc cho hai cụ:

Phúc như đông hải. Thọ tỷ nam sơn

IV LỄ CƯỚI Ở CUNG ĐÌNH VÀ MỘT SỐ VÙNG MIỀN

   1- Lễ nghi ở cung đình

Lễ cưới trong cung đình, quan lại ở các triều đại phong kiến thời nhà Nguyễn, nhìn chung giống với tục cưới gả của Trung Hoa, căn cứ vào sáu lễ (lục lễ), có thể rút bớt hay kết hợp nhưng được sắp đặt cầu kỳ, tỷ mỉ, trang trọng và xa hoa hơn trong dân gian. Việc dựng vợ gả chồng hoàn toàn do cha mẹ chủ trương và theo lối “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy“. Hoàng tử lấy vợ chính gọi là “nạp phi“, lấy vợ thứ gọi là “nạp thiếp” (khi về nhà chồng, mỗi người có một phủ riêng, cô dâu được gọi là phủ phi hay phủ thiếp). Công chúa lấy chồng gọi là “hạ giá” (chú rể được phong Phò mã).

   Hoàng tử nạp phi

Hoàng tử khi đến 15-18 tuổi sẽ được phong tước, cấp đất và tiền để lập phủ riêng, sau đó vua mới nghĩ đến việc cưới vợ cho con. Cô dâu do chính vua kén chọn qua việc dò hỏi các vị đại thần, xem ai muốn gả con gái cho hoàng tử. Khi có vị nhận lời, vua mới chuẩn bị hôn lễ. Đời Gia Long thứ 7 (1008), hôn lễ được cử hành qua các bước:

   Truyền mệnh: vua cử hai đại thần lãnh cờ tiết đến nhà gái thông báo, đúng ngày đã định, cha mẹ cô gái vào cung nhận mệnh, sau đó Khâm Thiên giám chọn ngày tốt để tiến hành hôn lễ.

   Nạp thái: trước ngày nạp lễ, có một buổi thiết triều ở điện Cần Chánh để vua truyền cho biết ngày giờ hôn lễ và cử các quan vào trong ban phụ trách việc hôn lễ này. Hai quan đại thần và một số người khác và vài mệnh phụ, quân lính bưng tráp thiếp và lễ vật đến nhà gái. Lễ vật được đặt sẵn trên các án sơn son thếp vàng bao gồm: vàng, bạc, gấm, lụa, nữ trang, trầu, cau, trâu, bò, lợn, rượu… Hòm thiếp đựng giấy ghi danh sách, số lượng vật phẩm và ngày giờ cử hành các lễ tiếp theo.

   Nạp trưng: Chọn ngày tốt, nghi thức được tiến hành. Ngoài những vật phẩm như trên còn có mũ áo, xiêm, hài, kiệu, lọng và “tờ sách vàng” viết bài dụ của vua. Một nữ quan đọc tờ sách, cô dâu ngồi vào ghế để nhận lạy mừng của mọi người, sau đó rước cô dâu về phủ của hoàng tử. Hai đại thần về điện nạp cờ tiết phục mệnh. Hôm sau, cha mẹ của cô dâu phải vào cung để làm lễ tạ ơn nhà vua.

   Công chúa hạ giá

Khi công chúa hạ mình xuống để lấy chồng, người chồng được gọi là “thượng giá” và trở thành phò mã. Việc chọn phò mã không hề đơn giản. Vua sai Bộ Lại, Bộ Binh lập danh sách 5 người là con cháu và chắt các công thần từ nhị phẩm trở lên, những chàng trai này phải thông minh và đẹp. Một vị hoàng thân và một vị đại thần mà vợ chồng song toàn, được cử làm chủ hôn và chiếu liệu (lo sắp đặt mọi chuyện). Họ cử người xứng đáng nhất và hợp tuổi với công chúa để vua quyết định.

Sau khi vua chọn, phò mã tương lai được vua ban tiền để tậu phủ và sắm vật dụng, trang phục đúng nghi thức, trong đó có một chiếc thuyền rồng. Cha mẹ phải vào lạy tạ ơn trên. Khâm Thiên giám chọn ngày để tiến hành sáu lễ, nhà trai phải liên hệ để biết mà chuẩn bị, cũng có thể kết hợp một ngày hai đến ba lễ, cách quãng nhau.

   Lễ nạp thái và vấn danh: gia đình phò mã đưa lễ vật vào cung, cúng tổ tiên công chúa và được chủ hôn mở tiệc khoản đãi. Công chúa nhận vàng bạc và nữ trang.

   Lễ nạp trưng nạp cát: gia đình lại đưa lễ vật vào cung, sau đó hai bên tự tổ chức lễ cáo với tổ tiên mình về việc cưới hỏi.

   Lễ điện nhạnthân nghinh: Trước đó, vua sai quan khâm mạng đến phủ đệ phò mã, bày giường thất bảo, màn tiên. Đúng ngày giờ đã định, gia đình phò mã mang lễ vật vào cung, trong đó có một cặp ngỗng. Vị đại thần làm chủ hôn lập một phái đoàn rước công chúa về phủ phò mã.

Phẩm vật cưới về số lượng mỗi khi mỗi khác và thường là khá nặng. Vào năm 1883, lễ nạp thái được ghi nhận gồm: 20 lạng vàng, 100 lạng bạc, 2 mâm trầu, 2 mâm cau; lễ vấn danh gồm: 1 con trâu, 2 con lợn, 2 hũ rượu; lễ nạp cát gồm: 4 tấm gấm, 10 tấm lĩnh màu, 10 tấm sa màu; lễ nạp trưng gồm: 2 mâm trầu, 2 mâm cau, 2 hũ rượu; lễ thỉnh kỳ gồm: 1 con bò, 2 con dê, 3 hũ rượu; lễ điện nhạn gồm: 2 con chim nhạn (được thay bằng ngỗng), 1 hộp kim chỉ, 100 đồng tiền cổ, 20 lạng vàng, 100 lạng bạc… Có quan nghèo không lo nổi nên vào năm 1864, vua Thiệu Trị dụ rằng: “Đời xưa, vua Nghiêu gả 2 con gái cho Ngu Thuấn ở Vĩ Nhuế, chả nghe nói lễ cưới sang trọng. Hơn nữa, đám cưới chỉ dùng 2 da hươu làm lễ, xưa kia vẫn nói thế. Nay gả hoàng nữ cho con các đại thần, mà các đại thần thanh thận trung cần, trẫm biết sẵn, vậy 6 lễ cưới, cho tuỳ theo cảnh nhà giàu nghèo mà sắm sửa, không nên ấn định lễ vật, chớ nên bày đặt quá nhiều. Vậy các quan chủ hôn cần biết rõ”. Như vậy “cái giá” của công chúa cũng phải “hạ” cho phù hợp hoàn cảnh của phò mã!

   2 – Lễ cưới ở Hà nội – Theo ông Nguyễn Vinh Phúc (Nhà Hà nội học). Nghi thức Lễ cưới ở Hà nội quy định nghiêm ngặt hơn, trải qua thời gian, nghi thức đó cũng đã thay đổi theo sự tiến bộ của xã hội. Nhưng vẫn giữ ba lễ cơ bản:

– Chạm ngõ, vẫn giữ nguyên nếp xưa. Là thủ tục cần thiết để hai gia đình là “chỗ người lớn” thưa chuyện với nhau. Sau lễ chạm ngõ, người con gái xem như có nơi có chốn, bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân

– Lễ Ăn hỏi của người Hà nội không thể thiếu cốm và hồng, ngoài ra còn có lợn sữa quay. Đồ lễ gắn liền với đặc sản đất Hà thành có: Bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè rượu, trầu cau, thuốc lá…Bánh su sê, còn gọi là bánh phu thê không thể thiếu.

– Lễ cưới tiến hành sau lễ Ăn hỏi thường dưới 10 ngày. Lễ rước dâu ngày trước có nhiều thủ tục. Đi đầu đám rước là những người giàu, có địa vị trong làng xã. Khi dâu về đến đầu làng, đầu phố còn có tục chăng dây, muốn đi qua phải đưa một ít tiền. Ăn uống tiệc tùng diễn ra trước khi cưới một ngày. (Bây giờ thường tổ chức trong ngày cưới, ăn uống tại ở Khách sạn.). Từ khi đô thị hóa ngày càng mạnh, phong tục cưới tiếp thu văn hóa phương tây. Đám cưới bắt đầu xuất hiện thiệp báo hỷ. Khi đưa thiệp mời phải kèm theo chè và mứt sen (Tục này bây giờ vẫn còn).

Đám cưới của những gia đình khá giả, phải có quả phù tang (dùng để đựng đồ lễ). Quả phù tang dài từ 80 cm đến 1m do hai người khiêng, đựng trầu cau, lợn sơn son. Người chủ hôn mở sâm banh là bắt đầu lễ cưới. Dù nhà giàu hay nghèo đều không ăn tiệc mặn, chỉ dùng tiệc ngọt mà thôi.

   3 – Lễ cưới ở Nam bộ – Theo nhà văn Sơn Nam – khi ở nhà gái có Lễ Lên Đèn. Lên đèn là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất, bắt buộc phải có.

Hôn lễ chính cử hành tại bàn thờ tổ tiên trong gia đình nhà gái. Bàn thờ phải có đủ “hương đăng hoa quả”. Họ hàng nhà trai đến phải có người làm mai đi đầu. Lễ vật gồm: trái cây, bánh kẹo, trầu cau. Ngoài ra, phải có cặp đèn (nến) trùng với kích thước của đôi chân đèn trên bàn thờ. Đây được xem là nét văn hóa, linh thiêng của dân tộc Việt.

Ðại diện nhà trai kính cẩn mời nhà gái uống trà, rượu, và mời ăn trầu. Hai bên bàn bạc với nhau vài chi tiết, tặng nữ trang, tiền mặt. Khi trưởng tộc nhà gái tuyên bố: “Xin làm lễ lên đèn” là lúc đôi bạn trẻ chính thức thành đôi vợ chồng. Người trưởng tộc mở một chai rượu do nhà trai đem đến đứng trước bàn thờ, giữa cô dâu và chú rể, chờ lửa ở hai ngọn nến cháy đều, ông trưởng tộc trao cho hai vợ chồng mỗi bên một ngọn để cắm vào chân đèn.

Ông kính cẩn khấn vái kính cáo việc cho con, cháu đi lấy chồng. Kính mong Tổ tiên phù hộ cho họ trăm năm Hạnh phúc. Ngọn đèn phải cháy đều đặn, nếu bên cao bên thấp thì chàng rể sợ vợ, cô dâu sẽ “làm chồng”.
Lễ lên đèn có một sự tôn nghiêm kỳ lạ với ý nghĩa: lửa là sự sống, niềm lạc quan, nối quá khứ đến hiện tại, mặt đất lên trời…Chính vì thế, đây là một nghi thức bắt buộc không thể thiếu ở mọi hôn lễ từ xưa đến nay của người miền Nam.

Nghi thức Lễ Lên đèn như một kiểu ký tên đóng dấu, chính thức công nhận đôi vợ chồng. Nghi thức này được tiến hành dưới ngọn lửa thiêng liêng, ánh sáng của niềm tin.

   4 – Lễ cưới ở Huế – Theo Tiến sĩ Tôn Thất Bình ở Huế – đất đế đô – bây giờ cũng rất trọng hình thức. Có lẽ chịu ảnh hưởng của Lễ giáo Phong kiến nhiều hơn. Đoàn đưa dâu có kiệu và lọng cho cô dâu, chú rể.

Người Huế không có tục thách cưới. Lễ vật tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nhà khá giả có thể thêm bánh kem, bánh dẻo. Ngoài ra đám cưới có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ một trai một gái, cùng lứa tuổi cầm đèn lồng và hoa đi trước.

Số người nhà trai đi rước dâu, phải là số chẵn. Trước khi đi và khi đón dâu về, nhà trai thường cử vài người đàn ông hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để “lấy hên”. Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi hợp cẩn. Người Huế có tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng trầu. Một đĩa muối gừng và rượu giao bôi. Vợ chồng phải nhai hết 12 miếng trầu ấy. Tượng trưng cho 12 tháng hòa hợp trong năm, 12 năm hòa hợp trong một giáp. Ăn muối gừng thể hiện tình cảm sâu nặng “Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.” Uống rượu giao bôi thể hiện mối tình nồng thắm

   5 – Lễ cưới của các dân tộc thiểu số

Đối với nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam, lễ cưới là lễ hội quan trọng nhất. Nếu lễ cưới của người Kinh thường diễn ra vào mùa đông thì lễ cưới của các dân tộc thiểu số được chọn vào lúc thu hoạch xong mùa rẫy. Mùa ấy cũng đồng thời diễn ra nhiều lễ hội khác như lễ mừng mùa, lễ chúc phúc, lễ tạ ơn thần linh…cho nên người ta gọi là mùa “ăn năm uống tháng”.

Lễ cưới các dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều giá trị văn hoá truyền thống nổi bật, nhất là nghi lễ, tập tục hay và lạ; các hình thức sinh hoạt văn hóa, vui chơi; đặc biệt là trang phục, trang sức của cô dâu trong lễ cưới.

Một tập tục khá phổ biến của nhiều tộc người miền núi là tục trùm chăn trong lễ cưới. Người ta chọn tấm thổ cẩm có nhiều hoa văn đẹp, mới dệt, trùm lên đầu cô dâu chú rể để chúc phúc, như lễ Pà Dùm của người Cơtu. Lễ trùm chăn là nghi thức thiêng liêng, đánh dấu sự bắt đầu cuộc sống lứa đôi. Đôi trai gái cùng uống ché rượu cưới, ăn miếng bánh lá, bôi huyết con vật hiến tế lên trán… như là lời thề ước hẹn thủy chung, trước sự chứng kiến của thần linh và dân làng. Người M’nông trùm chăn để thử tài của đôi trai gái. Khi tấm chăn vừa phủ lên đầu cô dâu chú rể, theo quan niệm của đồng bào ai là người nhanh tay dỡ tấm chăn ra trước thì người ấy có vai trò định đoạt cuộc sống gia đình, hạnh phúc sau này.

Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, dân tộc Dao đỏ còn giữ nhiều tập tục trong lễ cưới, nhất là trang phục cho cô dâu. Lễ đưa dâu về nhà chồng thực sự là một cuộc “diễu hành” biểu dương cái đẹp nghệ thuật và trang phục. Cô dâu – nhân vật chính của buổi lễ – trên đường về nhà chồng luôn giấu mặt trong tấm thổ cẩm lớn màu đỏ chói. Dẫn đầu đoàn đưa dâu là các nghệ nhân thổi kèn, đánh trống, bên cạnh là cô gái trẻ cầm vạt váy áo cô dâu dắt đi; phía sau có người che dù và đoàn người đi theo cổ vũ, đưa tiễn cô dâu trong không khí rộn ràng, vui nhộn. Về đến nhà chồng, làm lễ xong cô dâu mới được phép gỡ tấm vải che mặt ra, để mọi người ngắm nhìn gương mặt hạnh phúc của cô trong ngày cưới, nên duyên vợ chồng.

Từ xa xưa, con trai, con gái Mông chỉ nghe theo tiếng gọi của trái tim, người Mông không lấy vợ lấy chồng theo kiểu “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”. Con gái Mông đã yêu thì mãnh liệt vô cùng, nếu thích ai thì bỏ nhà đi theo; mà không thích thì trâu béo, bạc nén cũng chẳng cần. Tình yêu khiến họ vượt trăm sông ngàn suối để đến với nhau. Tình yêu thành lời hát, tiếng khèn tha thiết ở những phiên chợ tình tìm bạn, trên các sườn non vách núi. Các chàng trai dùng tiếng khèn điệu hát thay cho lời tỏ tình. Người Mông có hình thức “kéo vợ” (mà ta hay gọi là cướp vợ), không giống với bất kỳ dân tộc nào. Cho dù cô gái ưng thuận, nhưng khi chàng trai “bắt”, cô vẫn cố tình giằng co để chứng tỏ danh giá của mình. Cái lý của người Mông là “để mai này sống với nhau có điều gì khúc mắc, chàng trai không được nói là “cô tự theo tôi về…”; và cô gái cũng có cớ để dỗi rằng “do anh kéo tôi về đấy chứ!”.

Trang phục, trang sức lễ cưới cũng là nét đẹp nổi bật của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Dân tộc nào cũng có những bộ trang phục đẹp nhất và trang sức quý giá nhất để làm đẹp cho cô dâu trong ngày cưới. Nhìn vào váy áo, trang sức người ta cũng biết được ít nhiều về đời sống kinh tế gia đình và sự giỏi giang của chính cô dâu. Bởi vì một cô gái siêng năng, biết dệt thổ cẩm, thêu thùa hoa văn, luôn tay kéo bông… thì đương nhiên cũng phải biết tạo ra cho mình bộ trang phục truyền thống thật đẹp. Đó cũng là một tiêu chuẩn mà các chàng trai làng chọn vợ. Cô dâu không chỉ biết tạo ra váy áo đẹp cho mình, mà còn làm nhiều sản phẩm khác như khăn piêu, chăn nệm bông lau, thắt lưng, tấm choàng, tấm địu con… để mang tặng bà con nhà chồng và làm tài sản ra riêng. Đối với các dân tộc Tây Bắc, đồ dẫn cưới không thể thiếu là các loại trang sức bằng bạc như vòng cổ, vòng tay, khuyên tai có giá trị và được ưa thích. Còn đối với các dân tộc ở Trường Sơn – Tây Nguyên, vòng đồng và các loại trang sức bằng cườm mã não, là hiện vật không thể thiếu trong nghi lễ hôn nhân.
Lễ cưới các dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều giá trị văn hóa truyền thống cần được nâng niu, gìn giữ. Và đáng mừng là thời gian qua, nhiều địa phương trong nước đã sưu tầm, nghiên cứu và ghi hình về lễ cưới, các lễ hội dân gian cổ truyền, góp phần bảo tồn, phát huy vốn văn hóa phi vật thể đặc sắc của các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt.

Dân tộc Ê-Đê Các cô gái phải tự đi kiếm chồng và chịu phí tổn toàn bộ tiền cưới. Một cô gái đã “nhằm” một chàng trao nào đó, thì nhờ ông “mối” đem chiếc vòng đồng sang nhà trai để hỏi chồng. Chàng trai thấy “ưng bụng” thì sỏ tay vào chiếc vòng đồng ấy, rồi làm lễ nhận vòng. Vậy là, sự “ràng buộc” giữa hai nhà đã có sợi dây thân thiết. Để tìm hiểu cô dâu được kỹ càng, nhà trai có thể “đem” cô gái về ở nhà mình. Tổ chức lễ cưới ở họ nhà gái. Phải có lợn và rượu. Con lợn được mổ để lấy máu thoa vào chân cô dâu, chú rể, rồi cúng tổ tiên cầu cho hai trẻ được sống hạnh phúc. Tiếp đó, ông “mối” xúc cho cô, cậu mỗi người hai miếng cơm và ba chén rượu. Tất cả mọi người có mặt đều ăn một miếng thịt và một miếng ruột lợn. Ông trưởng họ cầm chiếc vòng đồng, cô dâu, chú rể sờ tay vào chiếc vòng đó, “tiết mục” này kết thúc lễ cưới. Sau cưới 3 ngày, thì mọi tư trang và dụng cụ sản xuất bên nhà trai phải mang về nhà gái để vợ chồng làm ăn

Dân tộc Khơme Nam Bộ. Phong tục cưới của đồng bào Khơ me có 9 lễ, thể hiện quan niệm sống của dân tộc này. Lễ cưới thường diễn ra theo mùa (từ tháng 10 đến tháng 4 theo Phật lịch) người Khơ me đặc biệt tránh tổ chức lễ cưới vào mùa mưa. Trai gái được tự do tìm hiểu, không bị cha mẹ cấm đoán. Nghi thức cưới bao gồm rất nhiều lễ:

   1- Lễ Si sla dâk (như lễ dạm ngõ của người Kinh), nhà trai thăm dò ý tứ của gia đình nhà gái, nếu được thì hỏi tuổi tác, rồi mang cơi trầu tới nhà gái thưa chuyện.

   2- Lễ Si sla kân seng (như lễ ăn hỏi), nhà trai mang lễ vật đến nhà gái đặt vấn đề cưới hỏi

   3- Lễ Si sla banh cheabpeak (tức lễ xin cưới). Nhà trai mang tặng vật dành riêng cho cô dâu tương lai như nhẫn, vòng vàng, bạc và nhiều thứ khác.

   4- Lễ nhập gia (lễ định ngày cưới), nhà trai mang lễ vật theo cặp đôi, số chẵn tượng trưng cho cặp vợ chồng; dẫn đầu đoàn nhà trai là ông Maha (ông mối). Khi nhà trai đến, bên nhà gái sẽ rào kín cổng, ngõ không cho vào để tượng trưng cho sự cao qúy, trong trắng của cô gái. Nhà trai phải dâng lễ vật và xin bên gái mở cổng rào cho vào; nếu vẫn không được, ông Maha sẽ cầm dao múa điệu Râm bơk rôbâng (múa mở rào), múa cho đến khi nào nhà gái mở cổng mới thôi.

   5- Lễ cưới. Sau lễ nhập gia, vào giờ tốt đã chọn từ trước, lễ cưới sẽ được tiến hành với sự tham dự của họ hàng hai bên, khách khứa, bạn bè và có các vị sư đến tụng kinh chúc phúc cho cô dâu chú rể.

   6- Lễ chăng dây (lễ buộc chỉ cổ tay). Trong lễ này, ông Maha sẽ nhảy múa trước cô dâu chú rể và mời mọi người dự lễ buộc chỉ cổ tay chúc phúc cho cô dâu chú rể, vòng chỉ dùng để buộc cổ tay cũng phải làm thành một đôi. Sau đó họ hàng, bạn bè sẽ tặng vật mừng cưới hoặc tiền cho cô dâu chú rể.

   7- Lễ Phsâm đâm nêk (lễ nhập phòng), lúc này ông Maha sẽ dẫn đôi vợ chồng mới vào phòng tân hôn, cô dâu đi trước, chú rể đi sau nắm lấy vạt áo cô dâu.

   8- Lễ Bôs kăntêl (lễ quét chiếu), một người già đông con nhiều cháu, mạnh khỏe mang chiếu ra và hỏi: “Ai chuộc chiếu này không ? Ai chuộc được sẽ giàu có, đông con lắm cháu, bảo ban ai cũng nghe…”. Lúc đó chú rể sẽ là người đứng ra chuộc chiếu, sau đó chiếu được trải ra cho cô dâu chú rể và khách ngồi. Trò chuyện xong, ông Maha cuốn chiếu lại và thay mặt cô dâu chú rể nhận quà mừng.

   9- Lễ Đêk sâng kât chơng mưng (lễ chung màn), giống như lễ động phòng ở người Kinh. Lễ tục này kéo dài đến 3 đêm liền, hiện nay chỉ còn duy trì ở một số địa phương. Hai người phụ nữ có con cháu đầy đàn, gia đình hạnh phúc được chọn làm người buông màn, múc nước dừa, bóc chuối mời cô dâu chú rể ăn và chúc sống hạnh phúc, thọ trăm tuổi. Theo lệ cũ trước đây thì có tới 4 người phụ nữ nằm chặn 4 góc màn và họ phải giữ ý tứ cho đôi vợ chồng mới nhưng vẫn theo dõi đôi vợ chồng có gì “trục trặc” không, để nói lại cho gia đình cô dâu chú rể tìm cách tháo gỡ, giải quyết nếu có việc không thuận.

Đám cưới phải trải qua đủ các lễ tục nói trên mới được coi là hoàn thiện, nghiêm chỉnh, đúng lễ nghi phong tục.

   6 – Lễ Cưới hỏi bên Công giáo. Lễ Cưới hỏi bên Công giáo, cơ bản vẫn giữ nét truyền thống dân tộc. Cũng đủ các lễ: Chạm ngõ, Ăn hỏi, Xin cưới, Nạp tài và Đón dâu.

Điều khác là vai trò của Linh mục và Nhà thờ có tính quyết định không những trước Đức Chúa trời và giáo lý quy định chặt chẽ; mà còn ràng buộc hai người khi đã thành vợ chồng.

Phải điều tra kỹ lưỡng trước khi kết hôn. Công việc này thường do cha xứ cả hai bên làm. Đầu tiên là về bí tích rửa tội và bí tích thêm sức, xem đương sự đã lãnh nhận chưa. Theo huấn thị Sacrosanctum, chứng chỉ rửa tội phải được cấp chưa quá sáu tháng tính đến ngày định thành hôn. Nhưng trường hợp rõ ràng, thì chứng chỉ cấp đã lâu cũng được. Chứng chỉ đó phải được trích lục từ sổ rửa tội của giáo xứ, trong đó phải ghi đầy đủ những điều giáo lý quy định. Nếu không có bằng chứng gì hơn, đương sự thề quả quyết mình đã chịu phép rửa tội là đủ. Hoặc chỉ cần một người làm chứng thật chắc chắn cũng được. Đương sự chịu phép rửa tội khi đã khôn lớn thì chính người ấy thề quả quyết mình đã chịu phép rửa tội cũng được.

Khi điều tra không có gì ngăn trở, cha xứ tiến hành “Rao hôn phối” và kiểm tra giáo luật, rồi gửi hồ sơ cho cha xứ nhà gái gồm: văn thư điều tra, chứng chỉ rao, chứng chỉ rửa tội, thêm sức, hay có tài liệu gì khác trong văn hàm xứ sở của mình liên quan đến vụ hôn phối… Cha xứ phải khảo hạch đôi hôn phối, xem họ có biết đủ giáo lý công giáo không

Khi làm lễ Ăn hỏi, Linh mục thông báo cho mọi người biết để xác định có vi phạm điều gì, nhất là có ai khác cùng yêu không?

Giáo Hội Công giáo khắt khe đối với những vụ hôn phối khác tôn giáo, Người khác tôn giáo phải tự nguyện học giáo lý theo quy định mới được kết hôn.

Trước khi làm các Lễ, Linh mục tiến hành khảo Bổn đối với đôi trai gái. Tập trung khảo 8 điều răn của Đức Chúa trời. Nội dung cơ bản xác định trách nhiệm của đôi vợ chồng trẻ đối với Đức Chúa, đối với gia đình họ mạc…Đặc biệt có điều quy định chặt chẽ, chế độ một vợ một chồng. Trọn đời chung thủy với nhau. Nếu kẻ nào vi phạm sẽ bị rút phép Thông công, trở thành kẻ ngoại đạo. Đó là điều đáng sợ nhất. Điều này thật sự tiến bộ, trước khi chúng ta có Luật Hôn nhân. (Chỉ được tái giá khi chồng chết).

Đôi vợ chồng trẻ thuộc 8 điều răn phân phối, mới được làm Lễ Cưới. Bình thường, hôn phối (lễ cưới) phải cử hành trong nhà thờ xứ. Nhưng khi có lý do chính đáng, thì được cử hành tại tư gia.

Trong Lễ Cưới, Linh mục hỏi từng người một:

– Con Phê-rô Hoàng (tên thánh của con trai) con có đồng ý lấy Ma-ri-a Hương (tên thánh của con gái) làm vợ không?

Người con trai trả lời: – Con đồng ý!

Linh mục lại hỏi:

– Con Ma-ri-a Hương, con có đồng ý lấy Phê-rô Hoàng làm chồng không?

Người con gái trả lời: – Con đồng ý.

Sau đó Linh mục trao nhẫn cưới và cho đôi trẻ chịu mình thánh (Ăn bánh Thánh – Một nghi thức thiêng liêng – vì đó là một phần máu thịt của Đức Chúa Trời). Cử hành phép hôn phối xong, linh mục quản xứ phải ghi vào sổ hôn phối

Sau đó về nhà tổ chức mời họ hàng, bà con làng xóm tới chung vui. Trên bàn thờ Chúa liên tục đèn nến, hương hoa.

Để các vị tìm hiểu thêm về việc cưới, thời trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chúng tôi xin tóm lược ý chính của cụ Phan Kế Bính (Một học giả uyên bác đầu thế kỷ XX) đăng trên “Đông Dương Tạp chí” năm 1913. Bây giờ in trong cuốn “Phong tục Việt Nam” :

   Tuổi đính hôn: Trai gái đến tuổi mười lăm, mười sáu là tuần sắp lấy vợ, lấy chồng. Hai mươi tuổi mà chưa lấy chồng, lấy vợ coi là ế. Cũng có nhà cưới cho con mới hơn mười tuổi. Lại có trường hợp ước hôn với nhau từ khi mang thai. Trai gái chênh nhau một hai tuổi là đẹp. “Nhất gái hơn hai, nhị trai hơn một”!

   Dạm hỏi: Chọn chỗ môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau. Rồi mượn mối lái đi hỏi trước. Khi nhà gái bằng lòng, mới đem cau, chè đến dạm. Từ đó thì mồng năm ngày tết, hoặc là ngày kỵ nhật nhà gái, người con trai phải đưa lễ vật đến mới là trọng thể. Cách ít lâu thì làm lễ ăn hỏi: Nhà trai đem cau chè, lợn, xôi đến nhà gái lễ gia tiên. Có nhà chỉ dùng cách giản tiện chỉ dùng cau chè, mứt mà thôi. Ở Quảng Nam trong lễ ăn hỏi thường lại thêm một đôi hoa tai vàng nữa.

   Xêu: Ăn hỏi rồi mới xêu. Xêu thì mùa nào thức ấy, như mùa vải thì xêu vải, mùa dưa thì xêu dưa.v.v…

Có nơi một năm chỉ xêu bốn mùa. Tháng ba xêu vải, tháng năm xêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng. Tháng chín xêu hồng cốm, gạo mới, chim ngói. Tháng chạp thì xêu cam, mứt, bánh cốm.

Đồ xêu nhà gái lấy một nửa, còn một nửa giả lại nhà trai, gọi là đồ lại mặt.

   Cưới: Xêu xong nửa năm hoặc một năm mới được cưới. Cũng có khi xêu hai ba năm mới được cưới. Nếu không xêu mà xin cưới là thiếu lễ, người ta chê cười. Nhà gái không mấy người nghe.

   Trao thơ, thách cưới: Trước khi muốn cưới thì đôi bên nhà trai nhà gái đều quang quẻ cả mới được, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà giai viết thư hỏi xem ăn những lễ vật như thế nào. Nhà gái muốn những thức gì, thì viết thư giả lời nhà trai. Nhà trai liệu thế lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà giai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà giai bất đắc dĩ phải lo thì có khi vì thế mà hai bên xui gia sinh ra oán ghét nhau.

Đồ thách cưới thì đại để: Bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu chè, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng, nhẫn, hoa, hột, quần áo, chăn màn, và kèm theo bao nhiêu tiền bạc v.v…

   Đám cưới: Về vùng hương thôn với nhau, cưới thường đi về đêm. Lúc đi phải chọn giờ Hoàng đạo mới đi, và phải có người đàn ông dễ tính ra đón ngõ trước, khi ra thì reo ầm cả lên rằng gặp giai, để cho mọi việc được dễ dàng mau mắn. Trong đám cưới có một ông già (kén ông nào hiền lành, mà vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu mới tốt). Cầm một bó hương đi trước, rồi đến các người dẫn lễ, kẻ đội mâm cau, người khiêng lợn rượu v.v…Chú rể thì khăn áo lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ. Người chủ hôn nhà gái khấn lễ gia tiên, rồi người rể vào lễ.

   Tế tơ hồng: Bày hương án ra sân, dùng lễ gà, xôi, trầu, rượu tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.

Điển tơ hồng xuất sứ từ bên Tàu. Có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi giăng gặp một ông già đang xé các sợi chỉ đỏ ở dưới bóng giăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng Ta là Nguyệt Lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân gian. Ta đã buộc sợi dây này vào chân người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau.

Vì thế ta cho việc vợ chồng là do ông Nguyệt Lão định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau.
Tế tơ hồng rồi thì người rể vào lạy cha mẹ vợ (tục ấy người theo lối văn minh bây giờ không chịu). Rồi đợi cho họ hàng ăn uống xong mới về.

   Đưa dâu: Sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà trai, nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng nhau thì kẻ mừng tiền, người mừng chè cau hoặc là câu đối đỏ v.v…Mà thường chỉ mừng bên nhà giai, chớ không mấy nơi mừng bên nhà gái. Duy ở thành phố thì có mừng bên nhà gái, nhưng chỉ mừng cho người con gái vài vuông nhiễu điều, hoặc may sẵn thành yếm mà thôi.

Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trước, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà trai, một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng, mẹ chồng. Đoạn giở về mới lạy cha mẹ chồng, hoặc còn ông bà chồng cũng lạy. Ông bà cha mẹ chồng, mỗi người mừng cho một vài đồng bạc hoặc một vài chục.

Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần. Phần phải có xôi, thịt, bánh trái, giò chả, cau chuối mới là cỗ cưới.

Ở thành phố thì thách cưới thường nặng hơn ở nhà quê, mà không có lệ đi ăn cưới đêm. Cưới ban ngày xong thì đón dâu về ngay. Trong khi cưới và khi đón dâu, hai ông già cầm hai cái lư hương ngồi xe che lọng xanh đi trước, rồi các kẻ dẫn lễ, nào người đội mâm cau trùm vải tây đỏ, nào kẻ khiêng chóe rượu, khiêng quả phù trang. Trước còn đi bộ, ít nay đám cưới đi toàn xe cao su, đám nào khoe sĩ diện thì đi toàn xe song mã.

Lễ bái cũng như cách nhà quê. Ăn xong cũng có phần. Phần có những bánh đường, bánh ngọt, lại thêm có một cái khăn mặt đỏ để gói phần. Sau lại có bánh dầy, bánh chưng chia biếu những người quen thuộc nữa.

   Phương thuật: Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc tốt đẹp sợ thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào choàng áo, để có ai độc mồm, độc miệng, thì đã có kim ấy trấn áp đi. (Theo chúng tôi được biết, những kim ấy là do mẹ đưa để cứu chồng khi quá đà trong sinh hoạt- T.G). Có nơi lại đặt hỏa lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, cũng là ý ấy. Cũng có nơi cô dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc. Có nơi dâu mới đến cửa, một người lấy chày cối giã một lúc, tục ấy thì ngộ quá không hiếu ý làm sao!

   Đóng cửa, giăng dây: Trong khi cưới và lúc đưa dâu, lại có tục đóng cửa, giăng dây. Lúc nhà trai đem lễ cưới đến nhà gái, thì bên nhà gái hoặc trẻ con, hoặc đứa đầy tớ đóng cửa không cho vào. Nhà trai phải cho chúng nó dăm ba hào, một đồng bạc thì chúng nó mới mở cửa. Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải lụa đỏ giăng ngang giữa đường, phải nói tử tế và cho chúng nó vài hào thì chúng nó mới cởi dây cho đi. Chỗ thì chúng nó bầy hương án, đốt một bành pháo ăn mừng. Chỗ ấy phải đãi họ một vài đồng mới xuôi. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ, cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho.

   Giao duyên: Tối hôm cưới người chồng lấy trầu (trầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ. Rót một chén rượu. mỗi người uống một nửa, gọi là Lễ Hợp cẩn. Vợ giải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại vái một cái. Tục ấy nhà đại gia mới dùng đến. Nhà thường thì không mấy người dùng.

   Lại mặt: Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm lễ chè xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là Lễ lại mặt, Chữ gọi là Tứ hỷ

Chương IV: BÀN THÊM VỀ CUỘC SỐNG VỢ CHỒNG

1 – VỢ CHỒNG NÊN CHÊNH BAO NHIÊU TUỔI ?

Đây là vấn đề vừa có tính xã hội, vừa có tính khoa học. Biết kết hợp hai yếu tố này hợp lý, sẽ là một trong những điều kiện đảm bảo Hạnh Phúc trăm năm của hai người.

– Về mặt xã hội: Tâm lý giới tính, nữ bao giờ cũng phát triển sớm hơn. Cùng lứa tuổi đôi mươi. Bạn gái chín chắn và “già giặn” hơn bạn trai nhiều.

Người phụ nữ bất cứ ở tuổi nào, cũng cần có một bờ vai nam nhi để tựa và được người chồng che chở. Luôn coi mình là bé nhỏ trong vòng tay của người mình yêu. Chẳng thế mà họ vẫn thích được người yêu nựng: “Con bồ câu nhỏ bé của anh!”. Kể cả khi “con bồ câu” ấy, có khối lượng hơn người yêu nhiều. Khi người ta yêu nhau; có biết bao mỹ từ, và những lời có cánh.

Nhưng nếu hai bạn cùng tuổi đôi mươi, bờ vai của chàng trai trẻ xem ra còn mỏng manh và chông chênh lắm! Ấy là chưa kể tính tình của chàng trai còn “trẻ con”. Chưa đủ tầm của một đức lang quân!

– Về mặt khoa học: Sinh lý giới tính, nữ giới bao giờ cũng phát triển sớm hơn nam giới. Mười ba tuổi, con gái đã có kinh nguyệt. Con trai phải mười sáu, mười bẩy mới “vỡ tiếng”. Ta thường nghe “Nữ thập tam, Nam thập lục” là chỉ ý ấy. Theo thời gian, bạn gái sẽ chóng “già” hơn so với bạn trai cùng tuổi.

Năm mươi, hoặc năm mươi lăm tuổi, phụ nữ đã mãn kinh. Hoạt động sinh lý đã giảm, cá biệt có trường hợp không có nhu cầu nữa.

Nhưng cũng tuổi ấy, người đàn ông vẫn còn khá mạnh mẽ. Chỗ “vênh” này, dễ dẫn tới những bi kịch gia đình. Người chồng vẫn biết “ăn vụng” là phạm luật. Nhưng ở góc độ “con người”, không phải ai cũng thắng được bản thân! Nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường.

Sự ràng buộc về đạo đức không còn khắt khe như xưa. Làm gì còn cảnh gọt đầu bôi vôi, thả bè trôi sông, treo bảng để dong đi khắp Làng…

Bây giờ người ta đang quen dần với lối sống Phương Tây, coi đó chỉ là chuyện sinh hoạt. Trong khi mọi thứ đều trở thành hàng hóa. Giản đơn là “ăn phở” trả tiền ngay! Hơn một chút, là “bồ bịch” lòng thòng. Nặng hơn nữa, là “vợ hờ”: mua nhà, biệt thự, xe con … dấu vợ, để cung phụng bồ nhí! Hiện nay việc có bồ nơi công sở lại trở thành “mốt” thời thượng!

Theo thiển nghĩ của chúng tôi, vợ chồng nên chênh nhau từ 5 đến 7 tuổi là đẹp nhất. Khung mở, có thể chênh không quá một Giáp (12 năm).

Chắc chắn có bạn trẻ không chấp nhận. Bạn cho rằng: Chênh nhau như vậy sẽ chẳng còn thơ mộng trong tình yêu. Tình yêu phải đẹp và đầy mộng mơ!

Bạn nêu một trường hợp: Một sinh viên gái 22 tuổi, yêu một chàng trai 30 tuổi. Hai bạn đi xem Ban nhạc Bức Tường. Mọi người xung quanh cuồng nhiệt hưởng ứng. Người thì múa tay, kẻ khua chân hát theo. Không khí cuồng nhiệt, sôi động. Nhưng bạn gái không dám hưởng ứng. Vì thấy người yêu chỉ đứng im. Cô gái buồn và tâm sự với bạn: – Hai người không đồng điệu tâm hồn! Còn gì là lãng mạn của tình yêu!

Xin lưu ý với bạn một điều rằng: Cánh diều lãng mạn của tình yêu, bao giờ cũng cần có một sợi dây bền chắc nối với mặt đất. Tình yêu dù thơ mộng, đẹp bao nhiêu đi nữa, cũng luôn phải đối diện với thực tế cuộc sống.
Cuộc sống không phải lúc nào cũng đầy hoa thơm, bướm đẹp. Cuộc sống rất nghiệt ngã, đầy những thử thách và cạm bẫy cam go! Bạn không tỉnh, sẽ có lúc húc đầu vào Bức Tường đấy!

Bạn nói: Jenny còn hơn Mác 4 tuổi đấy thôi! Tình yêu của họ thật đẹp và tràn đầy Hạnh Phúc. Đúng vậy! Tình yêu của họ còn trên mức tuyệt vời! Nhưng bạn cần phải biết rằng, họ chỉ là những con người cá biệt.

Bạn có chắc, bạn cũng sẽ là những con người cá biệt như vậy? Nếu được thế, thật là tuyệt phải không?

Liệu bạn gái vì công việc và thiên chức làm Mẹ, có giữ được khi ông chồng ngày càng phong độ, còn “hấp dẫn”. Lúc ấy bạn có yên tâm và đủ lòng tự tin?

Liệu bạn trai, khi đã ngũ tuần vẫn còn “ga lăng”. Bạn có thắng nổi mình để giữ lòng “chung thủy”, với người bạn trăm năm?

Chúng tôi chỉ nêu một số điều thường diễn ra. Xin bạn hãy bình tâm xem xét và trải nghiệm. Bạn nên lường trước, để cho đôi lứa thực sự xứng đôi. Hạnh phúc của bạn thật sự bền vững trăm năm! Đó là điều cả tôi và bạn đều mong muốn.

Nói nhỏ với các bạn trẻ: Con trai không nên để quá tuổi 35, con gái không nên để quá tuổi 30 mới cưới. Đó là giới hạn cuối. Vượt ngưỡng đó là không bình thường.

Trai ba mươi tuổi đương xoan

Gái ba mươi tuổi đã toan về già!

Khổng Phu Tử nói: “Tam thập nhi lập ” (Ba mươi tuổi lập thân).

Trong Tử vi, xem cung Mệnh từ khi sinh đến tuổi 30. Cung Thân từ tuổi 30 đến cuối đời.

Ba mươi tuổi, không còn là tuổi trẻ nữa. Ba mươi là tuổi chuyển sang giai đoạn mới, khẳng định vị thế và sự nghiệp theo con đường thẳng tiến. Chấm dứt sự lông bông, hao tâm tổn trí không cần thiết.

Tình yêu có trước hôn nhân. Tình yêu trai gái chỉ đẹp, lãng mạn và thơ mộng ở độ tuổi trẻ, phải là một đôi “Tiên đồng ngọc nữ” như trong mơ. Tuần trăng mật ở độ tuổi này, mới cảm nhận hết vẻ đẹp và thi vị của đôi vợ chồng trẻ. Có sự ngây thơ, thậm chí còn “ngốc nghếch” đáng yêu nữa. Như vậy chỉ càng tuyệt vời hơn mà thôi.

Bây giờ các cô sinh viên mới ra trường, chưa muốn lấy chồng. Đương nhiên cần có thời gian tìm việc làm, tích lũy kinh tế và tự khẳng định mình. Nhưng kéo dài sát đầu ba là báo động đỏ. Cảnh báo điều vô cảm! Lúc ấy có thể chỉ còn là nghĩa vụ thôi.

Con trai ngoài 30 tuổi còn dễ hơn con gái. Nhưng lúc này mới yêu cũng hơi khó. Tâm lý lứa tuổi các cô gái trẻ e ngại, không dám gần. Trong khi các chàng trai lại xem các cô là “trẻ con”, khó hòa nhập lắm. Rất nhiều chàng trai cuối đầu “ba” tìm vợ mãi không được. Làm cho người ta nói mát “già kén kẹn hom”. Đến mức:

Còn duyên kẻ đợi người chờ

Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.

Tuy vậy vẫn còn nhiều đám cưới quá sớm. Những học sinh phổ thông không có thời cơ vào các trường Đại học, Trung cấp, đã vội vàng cưới ngay. Trong khi chưa được chuẩn bị về mọi mặt. Tình trạng này không những chỉ có ở nông thôn, ngay một ở thành thị cũng có. Xây dựng gia đình sớm vất vả lắm. Gánh nặng gia đình đè lên đôi vai bạn trẻ, nhiều khi quá tải làm cho họ hụt hơi, vươn lên thật khó.

Các bạn trẻ cần tỉnh táo, tự điều chỉnh mình cho Hạnh Phúc thêm đẹp.

2 – TRÌNH ĐỘ, ĐỊA VỊ, KINH TẾ TRONG HÔN NHÂN:

Thông thường Nam hơn Nữ những yếu tố trên. Nhưng cũng có những cặp Nữ hơn Nam, cuộc sống của họ vẫn rất hạnh phúc. Tuy vậy, nhiều bạn trẻ không chấp nhận. Họ cho rằng đàn ông phải là chỗ dựa về mọi mặt của của người vợ. Chồng phải hơn Vợ là điều đương nhiên.

Ví như, vợ có trình độ Đại học, chồng phải là Thạc sĩ, Tiến sĩ. Nếu không, cũng là Đại học. Không thể là Trung cấp, lại càng không thể là công nhân lao động bình thường được! Chồng phải hơn vợ một cái “Đầu”.! Chồng phải có địa vị cao hơn vợ. Chồng phải là người kinh tế vững hơn.

Xem ra đây là điều khá phổ biến. Bởi vậy nhiều bạn trẻ đặt ba yếu tố trên lên hàng đầu, trước khi con tim thổn thức, thì thầm lời yêu. Do vậy, đã có nhiều cuộc tình ngang trái.

Trước hết mỗi người phải tự phấn đấu, nâng cao mình lên về mọi mặt. Không những thế, còn phải tạo điều kiện cho nhau và vì nhau. Đừng thỏa mãn với cái mình hiện có, hoặc buông xuôi mặc cho đời bèo dạt mây trôi.
Một trong hai người thấy mình hạn chế, cần phải nỗ lực vươn lên học tập. “Học, học nữa, học mãi” (Lê nin).

Đáng sợ nhất là sự kìm nén ngăn trở. Đó là tính ích kỷ, hẹp hòi. Sợ người bạn trăm năm hơn mình. Điều này thường xẩy ra đối với những người vợ có ý chí vươn lên, bị chồng trói buộc.

Lại có không ít đôi vợ chồng, đặt kinh tế và địa vị của chồng lên hàng đầu. Bằng mọi cách để chiếm đoạt. Thậm chí còn dăng “bẫy” để “lừa”. Nhưng họ chỉ sống với nhau một thời gian, rồi “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi”. Bởi lẽ khi họ sống với nhau, mới thấy rõ những điểm yếu trí mạng của từng người không thể chấp nhận được.

Vai trò kinh tế rất quan trọng. Tình yêu không thể đẹp khi cái dạ dày luôn rỗng! Nhưng bạn phải nhớ rằng: Vợ chồng bạn còn có đôi bàn tay, khối óc và hai con tim yêu nhau nồng nàn. Đó là thứ vũ khí còn mạnh hơn nguyên tử. Thứ vũ khí ấy sẽ giúp bạn vượt lên và chiến thắng. Bạn sẽ có mọi thứ do chính mình làm ra. Có vậy, Hạnh Phúc của bạn càng tuyệt vời và rất đáng để mọi người trân trọng. Bạn có quyền tự hào về tình yêu của mình.

Cuộc đời này có rất nhiều tấm gương như thế. Bạn hãy quan sát ngay bên cạnh bạn: Một đôi vợ chồng thương binh, một đôi vợ chồng nghèo rớt mồng tơi, một đôi vợ chồng khiếm khuyết, tật nguyền. Nhưng họ tin vào tình yêu do chính mình chọn lựa. Cuối cùng họ vươn lên, không thua mọi người. Thậm chí họ còn là những ông chủ giàu có về của cải và trí tuệ. Họ có một vị trí, một địa vị; làm cho mọi người phải kính nể và trân trọng.

Nhiều bậc mày râu luôn mặc cảm khi vợ hơn mình. Thật là ngộ nhận và sai lầm. Trong cuộc họp APEC năm 2006 tổ chức ở nước ta. Chính phủ ta đã tổ chức cuộc gặp mặt, chiêu đãi thân mật với các phu nhân, và các phu quân của các vị nam, nữ Nguyên thủ quốc gia.

Mấy năn gần đây. Tỷ lệ nữ thành đạt, có vị trí cao ngày càng tăng. Nhiều Bộ trưởng, Thủ tướng và cả Tổng thống đều do “phái yếu” nắm giữ.

Người vợ dù có hơn chồng về mọi mặt, nhưng họ vẫn không quên thiên chức làm dâu, làm vợ, làm mẹ. Chẳng thế mà nhiều vị nữ lãnh đạo, khi trở về nhà họ vẫn là người vợ hiền, dâu thảo, người mẹ yêu quý của các con.
Phẩm chất Công, Dung, Ngôn, Hạnh luôn được chị em coi trọng đặt lên hàng đầu.

Truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt nam, khi về nhà chồng là gánh vác giang sơn nhà chồng. Lo toan giỗ chạp, tết nhất. Thờ phụng tổ tiên nhà chồng. Chăm sóc ông bà, cha mẹ chồng. Thương yêu vun vén cho chồng, cho con. Sẵn sàng hy sinh nhận phần thiệt về mình, không một lời oán thán kêu ca.

3 – VÙNG MIỀN ĐỊA LÝ TRONG HÔN NHÂN

Vấn đề này, bây giờ đơn giản hơn nhiều. Ngày xưa rất phức tạp, gái làng chỉ lấy trai làng. Lũy tre là một rào cản, để “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”. Thậm chí nhiều người biết không xứng ý toại lòng; nhưng vẫn phải:

Ta về ta tắm ao ta.

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.

Tính bảo thủ cố hữu đã ăn sâu vào tâm thức người ta hàng ngàn năm:

Có con mà gả chồng gần

Có bát canh cần nó cũng đem cho

Hoài con mà gả chồng xa

Một là mất giỗ hai là mất con.

Đã xẩy ra biết bao cuộc hỗn chiến, khi trai làng phục kích đánh vỡ đầu, mẻ trán trai nơi khác đến.

Một khi không ngăn cản được, những cuộc tình “phá rào”. Khi ấy họ phải nộp tiền cheo cao gấp hai ba lần, so với những đám cưới cùng làng.

Ở ngoài Bắc, một số nơi quy định con gái đi lấy chồng, phải mua gạch lát đường làng. Nếu lấy ra ngoài làng phải lát dài gấp ba bốn lần. (Bắt buộc phải lát nghiêng gạch. Có vậy đường mới tốt). Dấu ấn còn lại trong ca dao:

Giúp em quan tám tiền cheo.

Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.

Tiền cưới chỉ một quan năm. Tiền cheo còn hơn tiền cưới. Xem vậy đủ thấy lệ làng nặng nề lắm!

Ngày nay đôi nơi vẫn còn rớt lại nếp nghĩ xưa cũ. Rất nhiều chàng trai ngoài làng phải ôm đầu máu, không dám lấy người mình yêu.

Một dạng khác của phân biệt vùng miền hiện nay vẫn còn. Nhiều bạn trẻ (và cả một số ông bố bà mẹ) không có thiện cảm đối với từng miền. Có bạn nói: “Cứ nghe tiếng trọ trẹ miền Trung là không thể chấp nhận được” hoặc: “dân Bắc kỳ khách sáo, không thật lòng, dẻo mỏ dễ bị lừa lắm!”. v.v…Bỏ được mặc cảm này không phải chuyện dễ. Người ta quên một điều rằng. Ở đâu cũng có người tốt, kẻ xấu. Nhiều và rất nhiều cặp vợ chồng, ở nhiều vùng khác nhau, nhưng tổ ấm của họ thật là tuyệt vời.

Bây giờ trong xu thế hội nhập, tình yêu không biên giới ngày càng phổ biến. Bờ tre và cái ao làng được mở rộng ra không chỉ trong một nước, mà còn vươn ra Quốc tế. Lấy chồng nước ngoài trở thành mốt. Phải nói rằng, rất nhiều cặp chồng Tây vợ Ta, sống rất Hạnh phúc. Không ít và thực tế đã có nhiều cô gái đổi đời, lên chân kính vì lấy được chồng Ngoại quốc giàu có. Nhưng cũng có nhiều bi kịch cười ra nước mắt. Hãy cảnh giác và tỉnh táo.

4 – VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG HÔN NHÂN CỦA CON.

Ngày trước Bố Mẹ hoàn toàn quyết định việc hôn nhân của con. “Cha Mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Nhiều đôi không lấy được nhau vì bố mẹ không đồng ý. Nguyên nhân chính là phải “Môn đăng (đương) hộ đối”.(Điều kiện gia đình, nhà cửa tương đương, ngang nhau trong hôn nhân). Có vậy bố mẹ mới đồng ý.

Nhiều cuộc tình đẫm nước mắt, vì không môn đăng hộ đối. Chuyện tình Lan và Điệp vẫn còn làm súc động bao thế hệ. Lời ai oán của cô gái phải nghe theo bố mẹ, lấy người chồng không như ý:

Mẹ em tham thúng xôi dền

Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng

Em đã bảo mẹ rằng đừng

Mẹ ngấm, mẹ nguýt, mẹ bưng ngay vào

Bây giờ chồng thấp vợ cao

Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.

Thấp” “cao” đâu phải là chỉ số đo cụ thể! Sự vênh váo về mọi mặt của đôi vợ chồng này chắc chắn sẽ xẩy ra nhiều bi kịch. Chẳng thế mà người vợ vẫn muốn tìm lại cái mình không có. Đó là thứ tình yêu đích thực. Nếu cần cũng phải nói dối:

Mình nói với Ta, Mình hãy còn son

Ta đi qua cửa thấy con Mình bò

Con Mình những đất cùng tro

Ta đi gánh nước rửa cho con Mình.

Người con trai đâu có choáng váng trước thực tế phũ phàng. Tình yêu của họ vượt lên tất, kể cả việc “Ta đi gánh nước rửa cho con mình”.

Ngày nay, trai gái được quyền tự do trong hôn nhân. Họ có quyền chọn lựa, lấy người mình yêu. Bây giờ là thời buổi “Con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đấy”. Đây là vấn đề nhạy cảm giữa những ông bố, bà mẹ đối với con. Cần tìm tiếng nói chung.

Không ít những trường hợp bố mẹ can thiệp quá thô bạo. Đặt ra những tiêu chuẩn chủ quan bắt con mình phải theo. Kết cục nhiều khi khá buồn lòng cho cả hai phía.

Bố Mẹ cần tỉnh táo, không nên áp đặt. Đã áp đặt bao giờ cũng chủ quan. Phải ở vị trí của con mà xem xét. Con tự chọn lựa và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Bố mẹ không ăn đời ở kiếp với con được. Bố mẹ chỉ nên định hướng, chỉ ra điều nên và không nên. Bằng sự từng trải cuộc đời, qua bao cơn sóng gió: chuyển những thông điệp cho con. Điều quan trọng làm cho con nhận rõ: Đạo đức phải được đặt lên hàng đầu, rồi mới xem xét các yếu tố khác.

Một điều quan trọng, xin lưu ý các bạn trẻ: Cần tìm hiểu kỹ gia cảnh xuất thân của người yêu. Từ xưa các cụ ta đã nói: “Lấy vợ kén tông, lấy chồng xem giống. Con nhà Công không giống lông cũng giống cánh”.

Dưới ánh sáng khoa học, gien di truyền quyết định giòng giống nối giõi. Ai mà chẳng muốn “con hơn cha nhà có phúc”. Nhận chân vấn đề này không đơn giản. Một số bạn trẻ bị sự hào nhoáng bên ngoài lừa dối.

Trong khi yêu dễ làm ta mù quáng. Lời nói ngọt ngào, cử chỉ duyên dáng của đối tượng “cao thủ”, làm ta mê mẩn. Những món quà đắt tiền đến đúng lúc… Làm bạn vô tư chấp nhận sự lừa dối. Thậm chí lú lẩn đến mức: “Con ong đã tỏ đường đi lối về!”.

Nhưng đến khi ở với nhau, mới thấy rõ tính ích kỷ, nghiện ngập, bạo hành, lỗ mãng, ngược đãi, bần tiện, đĩ bợm, giả dối, lười nhác, hỗn xược, lăng loàn…Người ta không thể sống mãi với sự giả dối được. Cái kim trong túi lâu ngày cũng lọt. Lúc ấy có hối, cũng đã muộn. Chỉ tiếc cho “Bông hoa nhài…

Cuộc sống đa dạng và phong phú, không loại trừ những trường hợp: “Tình yêu sét đánh”. Một chuyến đò nên nghĩa. Phải có giác quan đặc biệt lắm mới nhận biết thật giả. Những cuộc tình ấy vẫn rất đẹp, viên mãn. Nhưng thật hiếm, điều này không phổ biến.

6 – CỖ CƯỚI VÀ TIỀN MỪNG

Đây là vấn đề nhạy cảm và tế nhị. Người ta thường ít trao đổi vấn đề này một cách công khai. Vì việc này liên quan đến kinh tế, vật chất và tiền mặt! Nói ra dễ bị người ta bình luận lắm. Đây cũng là một bài toán khó giải cho nhiều người. Kể cả những gia đình kinh tế khá, tiêu tiền không phải tính. Huống chi những gia đình nghèo, những người về hưu, mỗi tháng chỉ có một ngày “đẹp”: Đó là ngày nhận lương hưu.

Dựng vợ gả chồng cho con là một Hạnh Phúc của bố mẹ. Khó khăn đến mấy cũng phải lo trọn vẹn. Nhiều gia đình phải tính toán, chọn lựa, so đo. Ít là dăm ba tháng, nhiều là hàng năm. Làm nhà, cưới vợ đương nhiên là phải tốn. Nhưng thế nào là hợp lý với hoàn cảnh chung và riêng?

Nhiều đêm mất ngủ, nâng lên đặt xuống những phương án. Để rồi cuối cùng chọn phương án khả thi nhất.

Một nội dung chi phối nhiều nhất trong đám cưới là tổ chức cỗ cưới như thế nào? Chưa bao giờ trên đất nước này cỗ cưới to như hiện nay. Thực đơn ăn được bàn bạc kỹ lưỡng. Các “chuyên gia hậu cần” tư vấn hết khả năng. Nhưng cuối cùng vẫn quay trở về vấn đề “đầu tiên”. Người khó thì gồng sức lên, để khỏi thua chị kém em. Không để thiên hạ chê cười. Người giầu thì đây là dịp thể hiện tiềm năng vô tận, cho thiên hạ “lác mắt”. Cứ thế cuộc chạy đua về cỗ cưới không có đích. Cuối cùng chẳng ai thắng, ai thua. Nông thôn là khu vực kinh tế thấp, nhưng xem ra cỗ cưới bây giờ cũng chẳng thua thành thị là mấy.

Bây giờ “nem công chả phượng” không còn là món lạ nữa. Những đặc sản quý hiếm: óc khỉ hấp, tôm hùm, tay gấu, thịt thú rừng… đều có trên mâm. Bia tràn như suối chảy. Rượu ngoại loại đắt tiền cũng không thiếu.

Được cái cỗ cưới bây giờ các bác hậu cần thỏa mái thể hiện tài năng, không phải dùng đến nghệ thuật băm thịt gà của cụ Ngô Tất Tố nữa. Cụ Ngô có sống lại hẳn phải mừng vì kinh tế của dân ta càng phát triển.

Đám cưới của một vị Giáo sư, năm 2001 tại Hanoi. Toàn khách VIP mỗi suất đặt tại Khách sạn Mélia 30 đôla. Tỷ giá 15.000 VNđ/1đôla = 450.000VNđ/1 suất ăn. Thế mới biết các Giáo sư ngày nay không còn nghèo như anh giáo Thứ của Ông Nam Cao !

Thực hiện nếp sống Văn hóa trong đám cưới, bây giờ có hình thức Tiệc trà. Qua một vài đám các vị sẽ thấy, đây là biến tướng của “bữa cơm thân mật”. Trên mâm cũng không thiếu những món mặn cao cấp và sang trọng. Những món ấy, chắc chắn không thể uống với nước trà được! Chỉ thiếu có đôi đũa và cái bát mà thôi. Các vị chỉ việc huy động năm quân rất tiện lợi.

Có địa phương, để thực hiện nếp sống “văn hóa”, đề ra một chủ trương: Mỗi đám cưới, dù là tiệc trà cũng phải đặt cọc một khoản tiền. Nếu đội “cờ đỏ” kiểm tra có ăn uống, số tiền ấy coi như một thứ lệ phí không hoàn lại!

Thế thì chẳng có đám cưới nào mà lại không ăn. Ít là nội bộ mươi lăm mâm. Nhiều là vài chục mâm mời bạn bè thân hữu, bà con lối xóm. Chẳng lẽ không nâng ly mừng nhau trong ngày vui lớn. Số tiền kí cược ấy coi như là thứ thuế đóng cho chính quyền trước tổ chức ăn vậy. Phải chăng đây là một biến tướng cuả tiền cheo. Đáng buồn hơn họ hành xử lạ kỳ: chõ loa phóng thanh vào đám cưới, khi quan khách đang ăn mà nhắc nhở. Ấy là chưa nói đến việc vi phạm quyền tự do tối thiểu của người công dân.

Điểm 4 trong Quy chế Tổ chức cưới của Chính phủ, ban hành ngày 25/11/2005 có viết: “Trường hợp tổ chức ăn uống cần tiết kiệm, không kéo dài nhiều ngày và phải đảm bảo vệ sinh an toàn tiết kiệm”.

Các địa phương cần phải thực hiện đúng quy chế trên, không để tình trạng “Phép vua thua lệ làng” xẩy ra như vậy..

Vậy cỗ cưới nên như thế nào? Cưới là việc vui. Người xa kẻ gần đều chạy đến, lo toan mọi việc giúp chủ nhân. Đương nhiên phải có ăn. Quan hệ cuộc sống luôn đan xen. Có nhiều mối ràng buộc tế nhị không thể tránh được.

Các vị quan chức có phải lúc nào cũng vắng mặt trong các bữa cỗ cưới đâu. Chắc chắn không nói ra, các vị vẫn biết không thể bỏ “bữa cơm thân mật” trong đám cưới.

Cứ vậy đủ thấy “Bữa cơm thân mật” là đương nhiên. Vấn đề đặt ra là giải quyết như thế nào vừa hợp lý, vừa được lòng người.

Kiên quyết phê phán việc lợi dụng “buôn cỗ”. Các vị chức sắc nên tỉnh táo, suy xét kỹ trước khi có việc. “Cáo chết để da, người ta chết để tiếng”. Mọi người đều biết: Tổ chức cưới chỉ lợi cho những người có chức có quyền. Nhiều đám thu tiền tỷ. Bởi lẽ đây cũng là dịp kinh doanh hợp lý, lãi suất cao. Đến nỗi một số quan chức, sắp nghỉ hưu tranh thủ cưới “chạy” (Những tưởng chỉ có cưới chạy tang), mặc dù con chưa muốn, hoặc còn ít tuổi. Rõ ràng đây là biểu hiện trục lợi, chẳng đẹp đẽ gì.

Chỉ các vị về hưu là cười như mếu. Khi hạch toán lại lương tháng trong mùa cưới bao giờ cũng “âm”. Hoặc phải đi vay.

Biết rằng nhiều đại gia làm cỗ to cho tương xứng với vị thế. Nhiều nhà còn khó khăn lại muốn “bằng người”. Ăn uống hai ba ngày linh đình. Chẳng qua chúng ta mắc bệnh “”.

Nên căn cứ vào mặt bằng kinh tế chung, mà định liệu mâm cỗ cho vừa phải..

Mừng đám cưới cũng là một vấn đề sôi nổi trong những buổi chuyện bên bàn trà.

Trước năm 1975, chủ yếu mừng vật lưu niệm và đồ dùng thiết thực cho đôi vợ chồng trẻ. Trong đám cưới bao giờ cũng có một cái bàn để tặng phẩm: Xoong quấy bột, chậu, bát, đĩa, ấm, phích, tích, chén…rất ít người mừng tiền. Có lẽ vì thời ấy, hàng hóa khó mua. Mọi thứ đều phân phối. Vợ chồng mới cưới chắc gì đã mua được. Cách mừng ấy là hợp lý và thiết thực.

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, tất cả được tiền tệ hóa. Thông qua chiếc phong bì xinh xinh, vừa gọn nhẹ lại có giá trị cao. Đây là dịp giải quyết mối quan hệ nghĩa tình. Một sự “sòng phẳng” cần thiết trong cuộc sống.

Nếu chỉ vậy là chuyện đương nhiên, không phải bàn. Nhưng đâu phải thế, thông qua dịp này để cấp dưới, người chịu ơn, người có mục đích riêng…chuyển “mệnh lệnh bằng tiền”, buộc chủ nhân (người có chức có quyền) phải giải quyết theo ý muốn của họ! Không lạ gì khi có những phong bì vài trăm, đến hàng ngàn, chục ngàn đôla. Dịp chuyển tiền “hối lộ” hợp lý không sợ ai phát giác. Quả tình đây là việc vô cùng nan giải.

Nhiều gia chủ đơn giản, cũng có thể muốn để cho mọi người thấy. Họ cầm hàng sắp phong bì cộm trên tay. Dễ gây phản cảm cho quan khách. Quả tình khi trao phong bì mừng, người trao và người nhận vẫn cảm thấy một cái gì bất ổn. Nhiều người không kịp uống nước sau khi ăn. Họ vội vã hoàn thành trách nhiệm với gia chủ. Bởi lúc này rất đông khách ra, vào.

Bây giờ một số nơi vẫn còn lệ người đi ăn cỗ cưới lấy phần mang về! Trong mâm có sẵn các túi nilon để chia nhau các món khô. Chỉ uống bia rượu, ăn món canh và quá ướt không chia nhau được! Một vấn đề khó có ý kiến nên hay không! tục này cần có giải pháp ứng xử sao cho hợp thời đại.

Có người còn căn cứ vào cỗ để gửi tiền mừng. Chuyện này có thật, tuy không phổ biến. Thấy cỗ to bỏ thêm tiền. Cỗ thường rút bớt tiền. Làm vậy hóa ra mình đi ăn hàng, ăn quán. Trước khi đi ai cũng thấy nên mừng bao nhiêu, cứ thế mà làm. Ta đi vì tình cảm, chứ đâu vì bữa ăn! Thay đổi kiểu trên, tự ta ta cũng không vừa lòng với ta đâu!

Mùa cưới là dịp sôi nổi nhất về chuyện này. Có người nói đùa một ngày phải “chạy sô” vài đám. Báo chí đã bàn luận nhiều rồi.

Nhưng các vị cũng nên thông cảm, cưới xin là việc đương nhiên. “Đò đầy thì đò phải sang sông” chứ! Bình tâm xem xét. Ai rồi cũng đến lúc dựng vợ gả chồng cho con như thế cả. Thực ra đây cũng là hình thức góp ống hỗ trợ nhau trong cộng đồng.

7 – VỢ CHỒNG NÊN SINH CON Ở ĐỘ TUỔI NÀO

Vợ chồng, ai cũng muốn sinh con đẻ cái. Tình yêu đẹp, được kết trái bằng những Thiên thần bé nhỏ. Đó là niềm Hạnh Phúc lớn, tiếp thêm nghị lực để ta đủ sức vượt qua bao giông tố trong cõi đời này. Dù vất vả đến đâu, ta sẵn sàng hy sinh chịu đựng được hết.

Xu hướng chung, vợ chồng ngày càng muốn ít con. Thậm chí họ còn không muốn sinh con. Dành nhiều thời gian cho công việc và hưởng thụ. Người ta ngại nuôi con, bởi lẽ nuôi con là công việc vô cùng vất vả. Chi phối tiền của, sức khỏe, sắc đẹp, thời gian của người phụ nữ.

Bây giờ không còn cảnh “Bên ướt mẹ nằm, bên ráo phần con.”. Đã có bỉm thật là tiện lợi! Chị em ngày trước nuôi con vất vả lắm. Thậm chí có lúc thật sự gay cấn:

“Trong khi lửa tắt cơm sôi.

Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem!”

Áp lực công việc trong nền kinh tế tri thức, đè nặng lên từng con người. Đôi khi biến chúng ta thành những cỗ máy, làm việc như rôbốt. Lịch thời gian được lập trình từng phút. Chỉ có bữa ăn cuối tuần may ra đông đủ cả nhà. Những cửa hàng ăn nhanh kiểu Mardonal ngày càng nhiều. Người ta vừa đi, vừa ăn trên đường đi làm là chuyện bình thường.

Chính thế dân số các nước phương Tây đang già hóa. Tình hình ở châu Á như Singapo, Nhật cũng đang diễn ra như vậy. Đây cũng là xu hướng chung của toàn cầu, khi nền kinh tế càng phát triển.

Nhật, Singapo và các nước phương Tây, có hẳn một chương trình Quốc gia khuyến khích các gia đình sinh con. Được trợ cấp thêm, ngoài tiền lương. Được nghỉ dài hơn, ưu đãi nhà ở khi sinh.

Thế nhưng tình hình vẫn xấu đi nghiêm trọng. Nguy cơ già hóa dân số đã rõ.

Sau này, khi nền kinh tế đất nước ta phát triển, chắc chắn lớp trẻ cũng không muốn sinh con nhiều.

Hiện tại ở nước ta, tình hình sinh con thứ ba lại bùng phát. Sau khi có chủ trương không cấm đoán một cách cứng nhắc, miễn là có điều kiện đảm bảo cho con.

Vùng nông thôn, nhất là ở miền Trung trở vào và vùng dân tộc ít người, lại càng sinh nhiều con. Chẳng khác gì cảnh:

Lấy anh từ thưở mười ba

Đến năm mười tám em đà năm con

Đạo lý Khổng Mạnh chi phối cuộc sống chúng ta hàng ngàn năm (Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại – Bất hiếu có ba điều, không có con nối dõi là bất hiếu lớn nhất).

Việc nối dõi tông đường luôn được coi trọng. Ngày trước nếu không sinh được con trai, chồng có quyền lấy vợ hai để có người nối dõi. Thậm chí, vợ cả còn đi hỏi vợ hai cho chồng.

Xét trên góc độ duy trì nòi giống, đương nhiên đó là điều hợp lý. Bởi lẽ ai cũng muốn duy trì nòi giống của chính mình. Mọi người đều bình đẳng trong Trời Đất mà. Tự ta, ta cứ xét ta: Ta buồn lắm khi chưa có nếp tẻ. Nói con nào cũng là con, chẳng qua là sự tự động viên an ủi. Nếu không, cũng là tự lừa dối mình. Vấn đề là đã có nếp tẻ rồi thì nên dừng. Trường hợp ta không cố được, đành chịu vậy. Khoa học hiện đại còn giúp những người vô sinh, ra khỏi hội “điếc” kia mà.

Xét trên học thuyết Âm Dương, đó là sự cân bằng hai mặt cho xã hội phát triển.

Xin các vị đừng nâng lên đặt xuống, phê bình kỷ luật. Thậm chí còn cắt thi đua khen thưởng của những người sinh con thứ ba. Cần có cái nhìn thông cảm, động viên an ủi thấm đượm tình người.

Sinh con là một Hạnh Phúc lớn. Nhưng sinh ở độ tuổi nào? Chúng tôi cho rằng Nam, Nữ chỉ dành 10, 15 năm cho việc sinh con. Phụ nữ từ 25 đến 35 tuổi thì dừng. Nam giới từ 30 đến 45 tuổi thì dừng.

Đây cũng là thời kỳ vợ chồng sung mãn nhất về thể chất. Độ trưởng thành đang hưng vượng trên tất cả các mặt. Những Thiên thần bé nhỏ sẽ được thừa hưởng tất cả sự tốt đẹp của bố mẹ.

Sinh con sớm, vất vả lắm. Chúng ta rất thông cảm, lúc tình yêu cháy bỏng, cứ làm đại đi. Khi tình thế đã xảy ra, cả hai tỉnh táo nên tiến hành kế hoạch hóa. Phải có thời gian củng cố tiềm lực, đảm bảo cho cuộc sống ổn định đã, rồi mới sinh con..

Nuôi một người con, từ khi bú mớm nâng niu, đến lúc trưởng thành mất 20 đến 25 năm. Thời gian ấy, bố mẹ còn đương ở tuổi làm việc. Điều kiện chăm sóc, ăn học và tìm việc làm cho con, bố mẹ còn có thể lo được. Trước 25 tuổi, con cái vẫn cần có vòng tay bố mẹ. Bố mẹ là điểm tựa để con tự tin bước vào đời.

Phần lớn con ở độ tuổi 20 chưa đủ bản lĩnh để tự lập. Nhất là con trai, tính cách chưa ổn định. Thậm chí còn lông bông. Bố mẹ phải bám sát và kiên trì chỉ vẻ từng việc.

Nếu sinh muộn hơn sẽ rất vất vả. Cha gìa con muộn cám cảnh lắm. Đến khi về hưu rồi mà còn nuôi con ăn học, lo việc làm…Đã ở tuổi xưa nay hiếm, còn phải lo dựng vợ gả chồng cho con. Lực bất tòng tâm rồi! Không những thế, con cũng bị thiệt thòi nhiều mặt, phải tự bươn chải một mình. Thương lắm tuổi già ơi!

Trường hợp bất khả kháng. Vì hiếm muộn, vô sinh, phải nhờ khoa học can thiệp. Buộc phải chấp nhận thôi. Biết rằng sẽ vô cùng khó khăn. Nhưng ai cũng muốn giòng giống của chính mình tồn tại trên đời. Tất cả đều bình đẳng trong cõi nhân gian này mà!

8 – LÀM GÌ ĐỂ GIẢM THIỂU XUNG ĐỘT VỢ CHỒNG ?

Khi yêu nhau, người ta luôn tắm mình trong vòng hào quang bảy sắc cầu vồng. Mỗi người đều tự đánh bóng hình ảnh của bản thân. Ta thấy người yêu là tuyệt hảo. Đứng giữa đám đông, ta vẫn nhận ra người ta yêu dấu, không lẫn vào đâu được. Có vậy, tình yêu thêm đẹp và mới thi vị. Vợ chồng đúng là một đôi “Tiên Đồng Ngọc Nữ, Cầm Sắt giao hòa”. Thuận hòa chung sống, trong niềm Hạnh Phúc tròn đầy.

Nhưng rồi vẫn có lúc cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Điều này không có gì lạ. Ngay bản thân ta, cũng có khi tự mâu thuẫn với chính mình. Hai con người trong ta phải đối chất, giằng xé giữa cái thiện và cái ác, tốt xấu, nên hay không nên, có thể hay không thể…Huống chi hai con người thường xuyên “đầu gối tay ấp”. Thành bốn con người rồi. Bát đũa còn xô sát nhau nữa là. Nếu không có mới là chuyện lạ. Xấu nhất là ly hôn, rồi ly thân, cải vã, thậm chí còn thượng cẳng chân hạ cẳng tay…

Vậy làm gì để giảm thiểu những xung đột vợ chồng tới mức thấp nhất? Tránh những hậu quả đáng lẽ không nên xẩy ra.

Mọi xung đột vợ chồng đều có nguyên nhân. Chúng tôi tạm phân loại thành Năm nguyên nhân sau:

1 – Mâu thuẫn về quan niệm sống.

Trước hết phải tìm hiểu kỹ càng, biết rõ được bản chất của nhau. Tự mỗi người cũng phải có trách nhiệm bộc lộ cho người yêu hiểu mình. Phải biết điểm mạnh, điểm yếu của từng người. Chân thành không giả dối. Hiểu được hoàn cảnh xuất thân, những khó khăn trở ngại. Đây là điểm đặt đầu tiên. Dám chấp nhận, và dũng cảm vượt qua những hoàn cảnh éo le. Như một tổ chiến đấu, hỗ trợ nhau chiến thắng. Tất cả vì mục tiêu tổ ấm gia đình.

Phải thống nhất cao trong quan niệm sống. Nói có vẻ lý luận là phải cùng chung Lý tưởng. Nghe có vẻ to tát! Nhưng đây là điều cơ bản nhất.

Một người sống trọng nhân cách, giữ gìn phẩm chất trong sáng; rất vất vả khi chung sống với người luôn đặt lợi ích vật chất lên hàng đầu.

Một người chỉ chăm chú con đường chuyên môn khoa học, cực kỳ khổ sở sống với người chỉ biết kiếm tiền bằng mọi giá.

Nếu sống với nhau, họ phải tự điều chỉnh. Chấp nhận như chung sống với lũ vậy. Nhiều đôi phải ly hôn và cũng nên chia tay sớm, khỏi làm khổ nhau.

2 – Mất niềm tin.

Không gì khổ tâm hơn là phải sống trong sự mất niềm tin. Mất niềm tin là mất tất cả. Đúng như vậy. Ngay từ khi yêu nhau, phải xây dựng một niềm tin ở nhau và cho nhau. Tuyệt đối không được giả dối.
Cá biệt có trường hợp vì mục đích chiếm đoạt, đã vẽ nên một vòng hào quang rực rỡ, làm lóe mắt người yêu. Đến khi chung sống mới nhận ra. Thì sự đã rồi. Bỏ cũng dở, ở không xong.

Ngày trước có những chuyện cười ra nước mắt. Các bạn trẻ bây giờ sẽ không tin chuyện đi lấy vợ thay. Người khuyết tật “sứt môi, lồi rốn” nhờ người khác đóng thế chú rể, nên vẫn lấy được vợ đẹp! Chuyện rằng có người nói với gia đình nhà gái khi đến ăn hỏi: “Ông bà bỏ quá cho, con tôi mồm miệng chẳng bằng ai!”. Khi cưới xong, mới biết là chú rể sứt môi! Đã lấy rồi không thể bỏ được. Ván đã đóng thuyền. Nhận đủ các Lễ nhà người rồi. Đương nhiên ngày nay chẳng có chuyện ấy. Giả sử nếu có, các cô gái cũng sẽ không bao giờ chịu đâu.

Khi mất niềm tin, người ta luôn sống trong nghi ngờ. Coi mình là người bị phản bội. Dẫn tới những hành động quyết liệt. Đỉnh điểm là sự đánh ghen. Ghen, thực ra là biểu hiện của tình yêu. Đòi hỏi quyền tư hữu của riêng mình. Không cho phép chia sẻ với ai. Với tinh thần ấy, chúng ta hoàn toàn thông cảm và ủng hộ. Nhưng quá ghen cũng mất khôn. Đừng nghĩ rằng ghen chỉ có ở chị em. Có nhiều lang quân ghen tới mức gây nên những thảm kịch.

Mất niềm tin thường xẩy ra trong hai trường hợp:

– Thứ nhất là bị “lừa” khi đang yêu. Thời nào cũng có nhiều Sở Khanh. Có thể một trong hai người bị lừa. Thậm chí cả hai đều lừa nhau. Những trường hợp trên, khi thuyền đã đóng ván bao giờ cũng xẩy ra xung đột quyết liệt. Người nọ luôn nghi ngờ người kia. Bởi họ luôn đem mình để xét đoán người. Mình không tốt thì người kia chắc cũng chẳng hơn ta. Chắc chắn cuộc sống vợ chồng của họ chỉ là sự gá lắp lỏng lẻo, bung ra tan nát bất cứ lúc nào.

– Thứ hai là bị “lừa” khi đã là vợ chồng. Đây mới là điều đáng buồn và quan ngại nhiều hơn.

Một trong hai người luôn nói dối. Thậm chí cả hai dối nhau. Ngoài dối lừa trong tình yêu, có thể còn dối lừa các việc khác.

Bị dối lừa trong tình yêu mới đáng sợ. Dối lừa trong tình yêu bao giờ cũng xẩy ra xung đột quyết liệt. Khéo giải quyết lắm mới có khả năng vãn hồi cục diện.

Dối lừa các việc khác, cần tìm hiểu kỹ nguyên nhân. Đừng đẩy sự việc lên nghiêm trọng. Cùng nhau tìm biện pháp tốt nhất để vượt qua. Ví như có người dấu nhau để chơi đề, đánh bạc…đến nỗi tán gia bại sản. Tình huống xấu này vẫn có thể sửa được, nếu như cả hai thực sự yêu thương nhau, thông cảm và bỏ qua lỗi lầm.

Cũng nên nói ở đây, nhiều người luôn luôn ghen. Thậm chí ghen một cách vô cớ. Một buổi về muộn, một cuộc gọi điện thoại trong đêm, một bức ảnh, một chuyến công tác với người khác giới…Thế là ba máu sáu cơn, tam bành tứ bẹ, tan hoang cửa nhà…Nên nhớ một điều: Người mình yêu còn có mối quan hệ xã hội chứ! Đừng lắp ghép những chuyện ngẫu nhiên thành sự thật. Hãy tỉnh táo không nên mù quá hóa mưa đấy!

Niềm tin, niềm tin ở nhau là cơ sở làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng bền chặt. Luôn luôn củng cố, xây dựng và giữ gìn niềm tin. Xin bạn nhớ cho điều này.

3 – Ông ăn chả, bà ăn nem.

Việc ăn chả, ăn nem thời nào cũng có. Lối sống phương Đông chưa thể chấp nhận “ông nọ bà kia”. Phương Tây coi chuyện này là sinh hoạt. Nhưng gặp cảnh cắm sừng chẳng dễ gì họ chấp nhận đâu. Thậm chí phải giải quyết danh dự bằng quyết đấu.

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, xem ra điều này ngày càng gia tăng. Có thể là người vợ phải nuôi con, kiếm sống, nên chóng già. Có thể người chồng già, vì công việc nên không đáp ứng nhu cầu của vợ. Cũng có thể cả hai muốn tìm cái mới: “Một cái lạ bằng xã cái quen” mà!

Đã có câu: “Vợ cả không bằng vợ hai. Vợ hai không bằng bồ. Bồ không bằng ăn vụng”!

Những tình thế này thường có hai khả năng. Một là, cả hai vợ chồng đã biết nhưng đều im lặng, coi như không có gì xẩy ra. Hai là, “lành làm gáo, vỡ làm môi”. Kéo nhau ra tòa ly hôn, chia chác tài sản và con cái. Dù sao đây cũng là bi kịch gia đình, với mức độ khác nhau. Coi như hết thuốc chữa.

Với phương châm “méo mó có hơn không”, cả hai người cần bình tâm xem xét kỹ lưỡng. Tốt nhất trở về ăn chung một nồi. Thời gian là liều thuốc hiệu nghiệm, hàn gắn những vết thương. Dấu vết để lại đậm nhạt là do sự cố gắng của cả hai. Người có sai lầm phải thực sự hồi tâm chuyển ý. Nhận rõ cái ngu mê của mình. Phải biết quý trọng cái mình đương có.

Người bị phản bội thật sự vị tha, bao dung độ lượng. Tan đàn xẻ nghé, chỉ làm cả hai đau khổ mà thôi. Chịu khổ nhất là những đứa con.

Thế mới biết các cô gái ngày nay, không muốn chồng ở xa mình là có lý do chính đáng. Lòng tin ở nhau xem ra mong manh lắm!

Ăn chả ăn nem chẳng qua là chuyện giải quyết sinh lý của lối sống hoang dã. Lối sống bầy đàn của thời nguyên thủy. Chẳng thế mà trong thanh niên học sinh, đến sinh viên đang có lối sống thử. Tình dục trước hôn nhân đang có xu hướng bùng phát. Trong thời buổi thông tin bùng nổ, sex trên mạng càng kích thích tuổi mới lớn. Tình dục trước hôn nhân hiện nay khá phổ biến, học trò cấp hai đã nếm trái cấm không phải là ít, cá biệt có bé gái cấp một đã mang thai! Điều quan ngại ở đây là người ta thờ ơ và coi đó chỉ là chuyện sinh hoạt.

Một cán bộ T.W Hội phụ nữ đã từng nói: Chị em bây giờ được “giải phóng” bộ ngực. Quả là như vậy. Khoe vòng một là một mốt ngày càng phổ biến, kể cả người đứng tuổi. Họ rất tự tin khi có đôi gò bồng đảo bắt mắt! Giới mày râu thỏa thích chiêm ngưỡng. Người ta công khai khen ngợi, yêu cầu và khuyến khích phải sexsy, gợi cảm, nóng bỏng, bốc lửa…

Bên cạnh lối sống hoang dã, chúng ta đương đối mặt với bạo lực và khủng bố. Ngoài xã hội thì mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé theo quy luật nghiệt ngã của kinh tế thị trường. Tình trạng trên là biểu hiện của suy thoái đạo đức, thành họ nhà tôm! Thời buổi đại loạn mà! Ở nhà cha mẹ sợ con cái, ở trường thầy cô sợ học trò, ra đường người già sợ người trẻ…

Để được việc và chóng xong chuyện, đã hình thành nếp Văn Hóa Phong Bì, sự dung dưỡng và tiếp tay cho tệ nạn tham nhũng; người nhận và người đưa phong bì coi là lẽ đương nhiên.

Những tưởng “chạy”, là một môn điền kinh trong thi đấu thể thao; đâu phải thế, “chạy” được chuyển đổi khái niệm thành “chạy chức – chạy quyền!”. Một cuộc chạy không ồn ào, nhưng lại sôi động như một dòng sông ngầm vô cùng mãnh liệt… Mọi thứ đều có giá của nó!

Trong phạm vi quốc tế, thì nước mạnh thôn tính nước yếu… bá quyền bất chấp luật pháp quốc tế.

Tình trạng bạo lực, khủng bố đang có xu hướng phát triển… Bạo lực gia đình trở lại ngày một mạnh mẽ. Bạo hành với vợ, ở nông thôn, vùng sâu vùng xa người chồng bạo hành đánh đập vợ không phải là ít. Ở thành thị và trong tầng lớp trí thức, việc bạo lực tinh thần trong quan hệ vợ chồng lại càng quyết liệt và vô cùng nghiệt ngã. Đòn khủng bố tinh thần làm cho người ta mòn mỏi thể lực và suy giảm về tinh thần, triền miên qua năm tháng còn tệ hại hơn đòn roi nhiều lần.

Bạo lực trở thành chủ nghĩa khủng bố thế giới. Hoang dã, bạo lực ngày nay được các phương tiện khoa học kỹ thuật tân kỳ nhất, trang bị tận chân tơ kẽ tóc.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ NGUYÊN THỦY HIỆN ĐẠI là một thực tế hiện hữu. Bởi lẽ con người hiện nay cá nhân được giải phóng tối đa. Những bản năng bị giáo lí đạo đức ràng buộc từ lâu đã được cởi tung. Như một con thú xổng chuồng, nó nhanh chóng phục hồi những bản năng hoang dã và thú tính của thời tiền sử. Ngay trong quan hệ ái tình, có xu hướng trở về thời kỳ quần hôn và chiếm đoạt. Trong thanh niên đương tồn tại lối sống thử, nhất là ở thành phố, công nhân ở các khu công nghiệp và sinh viên thuê nhà chung giường là chuyện “thường ngày ở huyện”. Trong cơ quan bồ bịch trở thành mốt sành điệu. Sự chiếm đoạt tình yêu của kẻ mạnh về bạo lực và mạnh về kinh tế ngày một nhiều. Bản thân phái yếu cũng chấp nhận và coi đó là niềm hãnh diện.

Dòng chảy lịch sử phát triển theo đường xoắn ốc, từ nguyên thủy tiền sử, đến nguyên thủy hiện đại như trên, cho ta một xét đoán: Đến lúc lịch sử phải trở về thời kỳ thịnh hành của tôn giáo, để có những vòng kim cô, buộc con thú xổng chuồng đó lại. Chẳng thế mà người ta nói thế kỷ XXI là thế kỷ của TÂM LINH

Ăn chả, ăn nem không phải chỉ là chuyện sinh hoạt, đây là lĩnh vực đạo đức. Nó tàn phá Hạnh phúc gia đình.

Xét trên ba mặt: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức trong tình hình trên đều xuống cấp. Khi mà hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội thay đổi, các chuẩn mực đạo đức cũng thay đổi. Bên cạnh sự tiến bộ của nền kinh tế thị trường, lại được nền khoa học hiện đại hỗ trợ; đã đem lại cho chúng ta một tiềm lực kinh tế mạnh hơn bao giờ hết. Nhưng mỗi sự tiến bộ của nền kinh tế, là một bước suy thoái về đạo đức.

Nhận thức của con người không còn bị các giáo lý cũ ràng buộc. Coi việc ăn chả ăn nem chỉ là chuyện sinh hoạt, là nhu cầu tự nhiên, thích là được. Từ nhận thức ấy nên mối quan hệ cũng thay đổi, chung thủy chỉ là tương đối nên dẫn tới hành vi “tự do”, buông thả thỏa mãn dục vọng cá nhân.

Ai cũng biết đó là vi phạm, nhưng thắng nó đâu phải chuyện dễ. Nó là một con bệnh trầm kha truyền kiếp không thuốc chữa. Một nguyên nhân làm cho xung đột gia đình quyết liệt hơn. Kể cả những người “ăn vụng” biết chùi mép.

4 – Nguyên nhân thứ tư gây xung đột vợ chồng nhiều hơn, phổ biến hơn thuộc về ứng xử tâm lý trong cuộc sống. Nhiều người cho rằng chỉ cần làm đẹp lòng đối tượng lúc đang yêu. Khi đã là vợ chồng không cần thiết nữa. Mỗi người trở về con người thực của mình. Đây là điểm sai lầm vô cùng lớn. Tại sao khi đang yêu không là con người thực? Như vậy không ổn rồi. Xung đột xẩy ra là điều không tránh khỏi. Không nên nghĩ rằng vợ chồng bỏ qua mọi giao tiếp ứng xử. Có giao tiếp ứng xử tốt với nhau, hạnh phúc gia đình mới tròn đầy. Việc làng, việc nước mới trọn vẹn.

Hiểu được bản chất của nhau, là điều cốt yếu. Nhưng chưa đủ, phải hiểu tâm lý, tính cách, tác phong sống của nhau. Như thế mới có giải pháp ứng xử hợp lý giữ gìn hạnh phúc lâu bền.

Hoàn cảnh xuất thân, môi trường sống, nghề nghiệp tạo nên tính cách con người ta. Nghệ sĩ, công chức hành chính, người làm công tác khoa học kỹ thuật, công nhân, nông dân…mỗi người có một kiểu sống riêng, chẳng ai giống ai.

Hai người cùng nghề nghiệp sẽ thuận lợi hơn. Nếu khác nhau, tự mỗi người phải tìm hiểu công việc của nhau. Thông cảm và tạo điều kiện cho nhau. Tự điều chỉnh cho hai tâm hồn đồng điệu. Trước hết phải tôn trọng nhau. Nghề nào cũng có giá trị riêng trong xã hội. Chẳng có nghề nào cao sang hơn. Vấn đề là hiệu quả, được xã hội chấp nhận.

Một số ông chồng muốn vợ mình chỉ làm nội trợ, chăm sóc con cái. Thậm chí bắt vợ bỏ việc cơ quan. Điểm này dễ tạo xung đột. Khi người vợ hoàn toàn phụ thuộc, người chồng sẽ có quyền uy tối thượng, anh ta là vị chúa tể vì anh ta nắm kinh tế. Như vậy không thể chấp nhận được. Làm việc vừa là quyền lợi, nghĩa vụ vừa là trách nhiệm của con người đối với bản thân mình, đối với xã hội.

Phụ thuộc về kinh tế sẽ phụ thuộc tất cả. Mất chủ quyền, chỉ còn là cái bóng ăn theo. Cần tỉnh táo nhận rõ điều này. Cả hai phải biết và tôn trọng quyền tối thiểu của một công dân.

Vẫn thường xẩy ra, khi một người nắm quyền kinh tế chi phối trong gia đình, đã thiếu tôn trọng người khác. Họ không thấy tác hại lớn: con cái cũng a dua theo. Thậm chí còn xem nhẹ, nếu như không nói là khinh thường người kinh tế yếu. Đây là một bi kịch khó giải quyết.

Xung đột vợ chồng nhiều khi chỉ vì một lý do đơn giản nhỏ nhặt, hoặc không hiểu nhau. Cố chấp, bé xé ra to. Như hai con dê trên cầu. Không con nào chịu nhường. Cuối cùng cả hai đều rơi xuống sông. Chuyện này thường xẩy đối với vợ chồng trẻ. Có đôi ly hôn chỉ vì tự ái không nên có.

Một cuộc điện thoại gọi đến, một bữa lỡ hẹn đi pich nich. Ngày 8 tháng 3 không có quà tặng. Một lần đứng với bạn trai…thế là nổi cơn ghen ngúng nguẩy, hờn mát. Không chịu tìm hiểu kỹ thực chất, vội vàng lu loa. Đóng cửa, bỏ ăn: cao hơn là bỏ về nhà bố mẹ, bỏ đến cơ quan, bạn bè…Thật là trẻ con. Một đôi lần còn chấp nhận. Cứ diễn mãi vở kịch ấy, không ai chịu được đâu. Hậu quả có thể xấu đấy.

Trong mọi công việc, giao tiếp ứng xử quyết định thắng lợi trên 50%. Có trường hợp gần như quyết định hoàn toàn. Trong quan hệ vợ chồng lại càng phải chú ý điều này. Ngôn ngữ dịu dàng thuyết phục. Luôn thường trực nụ cười trên môi. Từ khóe mắt, cơ mặt dãn ra phải tươi vui thu hút. Lỡ có tình huống bất khả kháng xẩy ra, cần làm chủ và dằn lòng lại. Hoặc tạm im lặng, tìm nơi thư giãn. Hãy soi gương những lúc “tam bành”, chắc là hình ảnh chẳng xinh một chút nào.

Tuyệt đối không được áp đặt theo ý mình. Tôn trọng nhau trên tất cả mọi mặt. Sở thích, cá tính không ai giống ai. Lấy mục đích xây dựng tổ ấm làm trọng. Có thể bỏ qua các tiểu tiết nhỏ. Người thích xem bóng đá, người thích phim chưởng…Những điều này chẳng ảnh hưởng gì đến tình yêu. Người vợ không ăn được tôm, cua. Người chồng có thể chấp nhận không ăn cũng chẳng sao. Dù người vợ có chiều chồng, nấu ra chỉ một mình chồng ăn còn ngon nỗi gì! Làm sao cuộc sống vợ chồng luôn mới, rộn vang tiếng cười, khuôn mặt rạng rỡ ngập tràn tình cảm yêu thương.

Tài tử Ngọc Bảo, một nghệ sĩ hát nhạc Tiền chiến rất hay trong chương trình “Ký ức thời gian”. Ông được nhiều cô mê. Nhưng vợ ông không bao giờ đánh ghen. Bà khéo léo giải tỏa và gỡ rối cho ông. Vừa giữ thể diện cho chồng, vừa giữ được Hạnh phúc, không chia sẻ cho một cô gái nào. Đáng để cho chị em một bài học sâu sắc.

Các đấng mày râu đều rõ: Bao giờ chị em cũng là người chịu thiệt nhất trong đời sống gia đình. Có lẽ do bản tính hiền thục, chịu thương, chịu khó. Tất cả vì chồng vì con :

Miếng nạc thì để phần chồng

Miếng xương phần mẹ, miếng lòng phần con.

Tự đáy lòng chị em, chồng con là trên hết. Nói vậy để các phu quân, không được cho mình cái quyền ưu ái hưởng cả. Biết nhận, cũng phải biết cho chứ.

Anh em cũng phải tự xét mình. Ngày nghỉ, cùng nàng chuẩn bị bữa ăn thêm. Tiếng cười rộn rã trong gian bếp ấm cúng. Hai mái đầu chụm lại chung nhặt một mớ rau, một hình ảnh đẹp biết bao…

Không thể chấp nhận cảnh: Chồng ngồi xem tivi để vợ một mình lo toan mọi việc bếp núc. Giặt quần áo cho vợ chẳng có gì xấu hổ cả, ta thương yêu và chia sẻ với người vợ yêu.

Một lời khen đúng lúc, một vật tặng ý nghĩa kỷ niệm ngày cưới, ngày Valentin…ta sẽ được chị em ban thưởng vô giá, vun đầy niềm hạnh phúc. Một ánh mắt long lanh, một nụ cười rạng rỡ, một lời nói dịu dàng và cả một không gian đẫm hương thơm…làm cho ta được hưởng trọn sự dịu ngọt của tình yêu.

Ai cũng phải học chữ nhẫn. Một sự nhịn là chín sự lành. Đừng nghĩ nhẫn là thiệt thòi. Xung đột vợ chồng thực ra chẳng ai thắng ai thua. Nhiều khi người thắng lại chịu đau đớn nhất.

Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hạt nào

Chú ý nhất là ngôn ngữ. Chị em luôn thích dịu ngọt. Âm lượng vừa phải, thỏ thẻ dịu dàng. Hai từ “Anh” và “Em” như khúc điệu rê thứ trong bản tình ca. Cũng không nên cho rằng gọi nhau anh và em chỉ dành cho vợ chồng trẻ. Như vậy là sai lầm đấy.

Vợ chồng cần có một “khoảng cách” tối thiểu. Người này căng thì người kia phải chùng. Già néo sẽ đứt dây. Hai trong một, nhưng một vẫn là hai.

Khoảng cách cần duy trì ở mức độ nào, là do hai người tự điều chỉnh. Sử dụng tốt “lý thuyết khoảng cách” này, sẽ thu được hiệu quả cao trong cuộc sống vợ chồng.

Có những lúc phải dối nhau. Nhưng xin nhớ một điều, đó là nói dối tích cực. Nói dối để tình hình tốt hơn. Ví như một cảnh sát hình sự, cứ toang toác kể cho vợ nghe mọi chuyện thì hỏng. Những hôm trễ giờ, nhiều tối không có mặt ở nhà; phải có lý do hợp lý chấp nhận được. Sự nói dối tích cực này làm cho vợ thương yêu hơn. Quá lạm dụng sẽ vô cùng nguy hiểm. Nó như con dao hai lưỡi vô cùng sắc. Nếu nó tạo thành thói quen, trở thành con người không thật. Làm mất niềm tin.

Giao tiếp ứng xử giữa vợ chồng đã khó. Nhưng mối quan hệ với những người thân càng khó hơn. Đây là vấn đề nhạy cảm đối với đôi vợ chồng trẻ.

Nên nhớ hai nhà là một, không được có biểu hiện bên nặng, bên nhẹ. Cả hai cần hiểu rõ mối quan hệ họ tộc của mỗi bên. Đặc biệt là người con dâu, nhập gia tùy tục; tìm hiểu và hòa nhập ngay nếp sống nhà chồng. Xuất phát tự lòng chân thành, không đối phó khách sáo. Lời chào cao hơn mâm cỗ, chan hòa tạo không khí gần gũi thân thiết. Điều này thường khó xử, với những cô dâu thành phố lấy chồng nông thôn.

Quan hệ mẹ chồng với nàng dâu, với em chồng. “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”. Người chồng rất khó sử. “Bên tình bên nghĩa, bên nào nặng hơn” Được vợ, mất mẹ và em…

Nhiều trường hợp mẹ chồng nàng dâu không chịu nhau, anh chồng không phân sử được. Đành phải chia ly. Những bi kịch này đáng lẽ không để nó xẩy ra. Cô dâu phải giữ đúng đạo lý: Tôn trọng bố mẹ chồng, bao dung đối với em. Mẹ chồng cần nêu gương, chỉ vẻ dạy bảo đến nơi đến chốn. Đại lượng tha thứ. Con trai mình đã chấp nhận, mình không nên xét nét quá. Chẳng thế người ta nói: Dâu là con.

Quan hệ giữa các chị em dâu xem ra cũng phức tạp lắm. Ở riêng nhà còn đỡ, gặp nơi “tam, tứ đại đồng đường – ba, bốn thế hệ chung sống một nhà” chung sân, chung ngõ cũng lắm chuyện. Chị dâu cả phải bao dung độ lượng, nhận rõ trách nhiệm của mình nặng hơn, nêu gương cho các em, không nên so bì cạnh kẹ. Mình chịu thiệt một chút cũng chẳng sao. Các em dâu thứ, phải xác định rõ vị thế của mình, không được đành hanh.
Trong trường hợp này các ông chồng phải lấy cái chung làm trọng, không được bênh vợ quá đáng.

Tâm lý con người còn bị chi phối bởi tuổi tác. Cùng con người ấy, lúc trẻ có cách sống khác khi về già. Đây là vấn đề thuộc tâm lý lứa tuổi. Sinh hoạt lúc già cũng khác. Răng rụng phải ăn đồ mềm. Ít ngủ hay dậy đêm. Như một cỗ máy đã han rỉ, bộ phận nào cũng có vấn đề. Nhưng không thể thay được.

Những yếu tố trên dễ gây ức chế. Thần kinh dễ không ổn định. Sinh ra cáu gắt nhiều khi vô lý. Luôn mặc cảm là “người thừa”, tủi thân tủi phận. Tuổi già bằng ba con trẻ mà.

Nhiều đôi lúc trẻ sống rất Hạnh Phúc, đến khi có tuổi mỗi người một niêu. Trông cám cảnh lắm!

Cần phải nhớ câu: “Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông”. “Cơm vợ thì ngon, cơm con thì đắng”. Năm tháng trải nghiệm bao sóng gió, đắng cay, ngọt bùi. Đã chung lưng đấu cật, vượt qua những lúc khó khăn nhất. Những ngày cuối đời càng phải cố gắng cho đẹp hơn. Càng cao tuổi càng phải nhẫn hơn. Thông cảm cho nhau hơn. Quan tâm chăm sóc tới nhau nhiều hơn. Sở thích của mỗi người phải được tôn trọng. Giao lưu xã hội, thay đổi không khí. Không nên “đóng cửa”, gậm nhấm lòng mình. Nó là thứ cường toan hủy hoại bản thân, hủy hoại Hạnh Phúc do chính mình gây dựng.

5 – Nguyên nhân thứ năm của xung đột vợ chồng là vấn đề sinh lý.

Có thể có người chưa thống nhất điều này. Cũng có thể đây là vấn đề nhạy cảm không nên nói tới. Nhất là khi tư tưởng phong kiến ít nhiều còn chi phối. Nói tới nó, thấy có cái gì gờn gợn. Sợ người ta cho là hạ đẳng, phàm tục.

Thực ra vấn đề này, ông bà ta xưa không hề lảng tránh. Trong các đền thờ ở nước ta, một số vùng vẫn thờ hai bộ phận sinh dục bằng đá. Một số nơi có tục múa cái nõn, cái nường. Chợ tình Khâu vai, còn tạo điều kiện cho những đôi trai gái đến với nhau.

Vấn đề này được nâng lên thành chủ nghĩa phồn thực. Con người cần phải sinh sôi nẩy nở. Duy trì nòi giống để có đủ lực lượng chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù.

Đây là vấn đề khoa học. Đáng tiếc là việc giáo dục giới tính chưa được chú trọng. Vì vậy có nhiều chuyện bi hài. Nghe buổi phát thanh “Cửa sổ tình yêu” trên Đài tiếng nói Việt Nam, hồi 10 giờ chủ nhật hàng tuần; chúng ta thấy có nhiều điều bất ngờ. Thời điểm tháng 2/2007 vừa rồi có bạn còn hỏi, hôn nhau có chửa hay không. Chuyện thật như bịa vậy.

Điều này xẩy ra trước năm 1975 còn chấp nhận được. Thời ấy tất cả dành cho cuộc chiến. Chẳng ai dám đưa vấn đề này ra. Duy nhất chỉ có một cuốn “Nam nữ cần biết”. Nội dung sơ lược, không được kỹ lưỡng như bây giờ. Người ta truyền tay nhau, không dám đọc công khai. Sợ mang tiếng xấu.

Bây giờ sách hướng dẫn về điều này có rất nhiều. Quầy sách nào cũng có. Trên mạng có thể tìm hiểu khá đầy đủ và chi tiết của các nhà chuyên môn viết.

Tình hình như vậy, vẫn có những cô cậu lơ ngơ như bò đội nón. Đã đến lúc cần đưa giáo dục giới tính vào học đường. Vấn đề là ở cấp độ nào. Càng né tránh, càng tò mò đi sai hướng.

Tình dục là sự thăng hoa của tình cảm trai gái. Không có nó, vợ chồng sống với nhau vô nghĩa. Tình dục chỉ là một khâu trong tình cảm vợ chồng. Nhưng lại là khâu quan trọng. Nó đóng vai trò quyết định sự bền vững của vợ chồng.

Nhiều đôi xung đột, thậm chí rất quyết liệt đều do nguyên nhân này. Không kể những người bị khiếm khuyết. Ngay cả những người tốt siêu hạng vẫn có thể xẩy ra.

Thường do hai điểm sau. Một là, cả hai đều hiểu biết về sinh lý giới tính. Nhưng khi thực hiện không tuân theo trình tự hợp lý. Thường xẩy ra đối với các đức lang quân trẻ. Họ bỏ qua giai đoạn quá độ, muốn đi tắt đón đầu. Cho nên chưa đến chợ đã bị mất cắp. Gây tâm lý thất vọng, không thỏa mãn cho vợ. Tình trạng này kéo dài, người vợ càng chán nản. Đến lúc làm theo nghĩa vụ. Hoặc phản ứng quyết liệt, vì sự đau đớn của những lần gặp nhau trước vẫn ám ảnh. Anh chồng càng ức chế, vì không được đáp ứng. Thế là xung đột xẩy ra. Kẻ vũ phu thì thượng cẳng chân, hạ cẳng tay… Thiếu bình tĩnh sẽ dẫn tới hậu họa khôn lường.

Hai là, cả vợ chồng hoặc một trong hai người, thiếu hiểu biết. Loay hoay tự tìm hiểu, khám phá, rút kinh nghiệm. Đôi khi kéo dài hàng chục năm trời, mới chọn được một phương án khả thi nhất. Như vậy đã để thời gian trôi đi phí hoài, thật đáng tiếc! Trong thời đại bùng nổ thông tin, giúp ta rút ngắn thời gian. Chỉ vẻ cụ thể cho chúng ta nhiều cách thức, để tận hưởng hết dư vị của bữa tiệc ái tình trong quan hệ vợ chồng. Tại sao lại không tìm hiểu?

Vị cán bộ nữ T.W Hội Phụ nữ còn nói trên Đài truyền hình: “Chị em chúng ta không những giỏi việc nước, đảm việc nhà, mà còn phải là một bà hoàng trên gường.”

Đã là bà hoàng phải biết tự làm đẹp mình. Một nước da trắng hồng, một làn tóc mây, một thân hình ngọc ngà…thấm đẫm trong hương thơm lan tỏa, làm cho đức lang quân thêm say đắm.

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

                                        ( Truyện Kiều câu 1.311 & 1.312 )

Điều đơn giản nhất các bạn trẻ cần biết: Sự hưng phấn của nam và nữ không giống nhau về cấp độ thời gian. Nam bột phát rất nhanh. Trong khi nữ lại từ từ chậm chạp. Có thể nói nam như ngọn lửa rơm, như cơn mưa rào mùa hạ. Còn nữ như bếp than kíp lê, như mưa dầm tháng tám. Lửa rơm đương nhiên nhóm nhanh, nhưng cũng tắt nhanh. Than kíp lê nhóm rất lâu, khi đã bén thì hừng hực cả buổi. Mưa dầm tháng tám đến mức thối đất, thối cát kia đấy!

Chồng phải biết kiềm chế, cùng vợ và giúp vợ. Phải như một vận động viên thể thao vậy. Muốn có thành tích cao phải khởi động. Khởi động tốt là thắng 50%. Hợp điểm ở cao trào lên đỉnh, là lúc mỹ mãn cho cả hai. Sau “cuộc chiến”, nam chiến binh thường lăn ra ngủ như một khúc gỗ. Đó là một sai lầm lớn. Trong khi lửa than đang hạ nhiệt từ từ. Cần có sự chia sẻ của chồng. Những lời nói thủ thỉ dịu ngọt. Những cử chỉ mượt mà làm cho bữa tiệc tình yêu như được bay lên chốn bồng lai.

Luôn đổi mới và tránh sự nhàm chán, làm sao mỗi lần đến với nhau không nên lặp lại. Như một bữa ăn, biết đổi món mới ngon miệng. Ngay từ khi con người còn ở thời nguyên thủy họ cũng đã rất chú ý điều này. Hãy quan sát các hình vẽ, các phù điêu trên trống đồng và các hiện vật cổ. Các cụ ta không hề né tránh.

Các nước phương Đông từ thời trước công nguyên, cũng đã có “khung mở” cho vấn đề nhạy cảm này. Trung quốc có bộ “Tố nữ kinh”. Ấn độ có bộ “Kamasutra” trình bày chi tiết và hình vẽ 64 tư thế ái ân, là một đề tài tham khảo trong các tài liệu tính dục học mọi thời đại.

Trong các cửa hàng bán đồ lưu niệm ở Mianma và Népal, người ta có bán những bức tượng đồng cao từ 15 đến 20cm, mô tả nhiều tư thế nhạy cảm của trai gái. Những đôi vợ chồng trẻ thường mua về trang trí trong phòng hạnh phúc của mình.

Có người nói vui: Đời người ta chia làm bốn hồi. Hồi trẻ, hồi xuân, hồi tưởng và hồi kèn. Hồi trẻ dành cho đôi lứa trời sinh. Hồi xuân là sự bùng phát thăng hoa lên đỉnh điểm. Hồi tưởng là bắt đầu bên kia dốc, để ta soát xét lại cuộc đời. Hồi kèn là lúc người đời phán xét ta chính xác nhất, khi đã đóng nắp quan tài.

Giai đoạn hồi xuân, ta mãnh liệt. Cần biết tiết chế dành cho hồi tưởng. Đừng nghĩ rằng giai đoạn hồi tưởng là chấm dứt. Thời kỳ này phần lớn nữ giới “trên bảo dưới không nghe”! Nhưng nam giới vẫn “chạy tốt”. Ứng xử việc này rất tế nhị. Nếu giải quyết không tốt có thể xẩy ra những bi hài kịch cười ra nước mắt.

Người chồng không biết đánh thức “giấc ngủ” sinh lý của vợ. Không có người vợ già và xấu. Chỉ có người chồng thiếu hiểu biết, nên giấc ngủ ấy triền miên. Biết đánh thức người vợ sẽ trẻ lại, cũng có thể hoạt động được. Dưới góc độ khoa học, điều này hoàn toàn có cơ sở. Biết khơi dậy, tuyến nội tiết sẽ được phục hồi.

Có thể còn những nguyên nhân khác làm vợ chồng xung đột, mâu thuẫn. Theo chúng tôi, năm nguyên nhân trên thường xuyên xẩy ra. Cái nào cũng gay cấn, sẵn sàng đẩy mâu thuẫn lên cao độ. Ba nguyên nhân sau dễ điều chỉnh. Hai nguyên nhân đầu thuộc về bản chất, khó khắc phục, dễ phá hoại Hạnh phúc gia đình.

Trước khi xây dựng, các bạn cần tìm hiểu thật kỹ lưỡng. Hiểu rõ bản chất của đối tượng, là quyết định trên 50% Hạnh Phúc lứa đôi.

LỜI CUỐI SÁCH

Hôn nhân và cưới hỏi là một việc lớn của đời người. Đã là người bình thường ai cũng phải trải qua. Cuốn sách này viết dưới dạng cẩm nang, phổ thông cần biết.

Chúng tôi rất vui mừng nhận được một số ý kiến phản hồi của độc giả từ Sài gòn, Hà nội, Thái bình, Ninh bình, Nghệ an và Thanh hóa, sau khi cuốn sách in lần thư nhất… chân thành cảm ơn các độc giả đã bớt chút thời gian đọc và cho ý kiến. Chúng tôi coi đây là một niềm hân hạnh cho người viết.

Tiếp thu ý kiến của các vị, lần này chúng tôi bổ sung một số tư liệu. Chúng tôi đưa phần chữ Hán vào các từ cổ hay dùng để có dịp tìm hiểu căn nguyên nội dung của từ.

Theo yêu cầu của một số độc giả, chúng tôi viết thêm lời văn của ông chủ lễ trong các lễ và lời dặn dò của bố mẹ với con gái trước khi lên xe hoa. Đây chỉ là một gợi ý tham khảo. Thực tế còn phong phú và đa dạng hơn nhiều.

Những điều chúng tôi nêu lên ở đây, chắc chắn còn thiếu nhiều. Đất nước ta có tới 54 dân tộc. Mỗi dân tộc có cách tổ chức cưới hỏi riêng. Chúng tôi không hiểu biết hết. Ngay việc cưới hỏi của người Kinh, mỗi vùng có những dị biệt. Chúng tôi chỉ nêu ra những việc chung nhất ở đồng bằng Bắc bộ và bắc Miền Trung. Những việc chủ yếu không thể bỏ qua. Kính mong quý độc giả bổ sung.

                                                              (Sưu tầm của Nguyễn Quý Phong)

 

 

 


Trang 1/Tổng số 11

Bài viết cùng chuyên mục :

Xem thêm

Ảnh hưởng văn hóa phương Đông trong đời sống người Việt

Thuật ngữ phương Đông cho đến nay vẫn là đề tài gây tranh luận. Xuất phát …