Trang chủ / Tư liệu / Những điều nên biết / Những điều cần biết về Phong Thủy

Những điều cần biết về Phong Thủy

MỞ ĐẦU

Khi làm nhà, không thể không quan tâm tới Phong thủy. Nói tới Phong Thủy, mọi người đều nghĩ đây là một môn thần bí của các thầy Địa lý. Chẳng thế mà vẫn gọi “Thuật Phong Thủy”.

“Phong Thủy (chữ Hán: phong_thuy_chu_Han) là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hoạ phúc của con người.

Về mặt từ nguyên, phong có nghĩa là “gió”, là hiện tượng không khí chuyển động và thủy có nghĩa là “nước”, là dòng nước, tượng trưng cho địa thế.

Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa hình, địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng; hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Phong thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự cùng thông của nhân sự. Cát ắt là phong thủy hợp, hung ắt là phong thủy không hợp…
Hai chữ phong thủy còn chỉ phương pháp tìm kiếm và chọn lựa nơi trú ngụ hoặc mai táng cát tường phú quý, phúc thọ bình yên, tức là thuật Phong thủy.”
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Môn Khoa học Phong Thủy giúp ta tìm ra các yếu tố hài hòa giữa con người với tự nhiên, để chọn lựa nơi ở của mình tốt nhất. Nói khác đi, con người phải hài hòa với Đất Trời! Gọi là Tam tài đồng nhất thể!

Tam tài là ba ngôi trọng yếu trong Vũ Trụ: Thiên, Địa, Nhân, tức là Trời, Đất và Người.

Con người đầu đội Trời, chân đạp đất, là một Tiểu Thiên Địa, hay một Tiểu Vũ trụ; bởi vì Trời Đất có gì thì con người có nấy, chỉ thu nhỏ lại mà thôi. Như vậy, Trời – Đất – Người tương đồng từng điểm; cho nên Vũ trụ không có con Người, thì Vũ trụ không hoàn toàn. Vũ trụ là một sự hài hòa của Thiên – Địa – Nhân, nếu thiếu một yếu tố thì sự hài hòa không còn nữa.

Như thế, địa vị của con người trong Trời Đất rất quan trọng và cao cả, không thể thiếu được trong Vũ Trụ.

Phong Thủy là một bộ phận của nền Văn hóa thần bí của người phương Đông. Nó ra đời trước công nguyên, trước hết là phục vụ cho vua chúa và tầng lớp quý tộc. Chẳng thế mà khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, Lý Công Uẩn đã viết:

“…thành Đại La…ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.”
Trích Chiếu dời đô

Xem thế ta càng hiểu rõ, môn Phong Thủy có sức sống mạnh mẽ như thế nào. Qua thực tiễn chiêm nghiệm, người ta thấy Phong Thủy có đúng có sai. Làm nhà theo Phong Thủy, người được Phúc đến, thì lòng tin được nhân lên; người có điều chẳng may, thì hoài nghi…Tựu trung lại, vẫn phải quan tâm tới Phong Thủy khi làm nhà.

Phong Thủy là bộ môn vô cùng phức tạp. Trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch, được vận dụng vào thiên văn địa lý, để chỉ ra sự tiềm ẩn tốt xấu của vận khí, tác động đến cuộc sống con người. Tuy nhiên nó chỉ hỗ trợ, có tác dụng cải biến, chứ không thể làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh. Cũng như Tử Vi, Phong Thủy là môn khoa học dự báo về vận khí tốt xấu trong tự nhiên, ảnh hưởng đến cuộc sống. Đã là dự báo, đương nhiên có đúng có sai.

Biết cái tốt để tận dụng, thấy điều xấu mà đề phòng và hạn chế. Trong khi môi trường sinh thái, ngày càng bị con người phá vỡ sự cân bằng một cách nghiêm trọng. Hiểu biết Phong Thủy để hóa giải ngay trong ngôi nhà mình ở. Đó chẳng phải là việc nên làm hay sao?

Góp phần tìm hiểu môn Phong Thủy, đưa ra giải pháp ứng xử phù hợp thời đại; với phương châm cần biết tối thiểu, tập sách nhỏ này chỉ nêu những vấn đề cơ bản chủ yếu, có tính phổ thông của Phong Thủy. Người có nhu cầu làm nhà theo Phong Thủy có thể tự mình chọn vị trí đất, xem và xác định hướng nhà khi làm, hoặc mua chung cư. Tự xem tuổi, lựa thời gian…và tiến hành các thủ tục Tâm linh khi làm nhà; giải bài toán tâm lý, cầu mong cuộc sống vạn sự như ý, luôn được an khang thịnh vượng.

CHƯƠNG I: CÁCH XÁC ĐỊNH HƯỚNG NHÀ
I. XÁC ĐỊNH HƯỚNG – GÓC 45 ĐỘ.

Khi làm nhà, hướng nhà rất quan trọng. Hướng là mặt tiền ngôi nhà nhìn thẳng ra phía trước. Người ta chia thành 8 hướng, đó là: Tây Bắc – Bắc – Đông bắc – Đông – Đông Nam – Nam – Tây Nam – Tây. Mỗi hướng 45 độ

Ai cũng muốn nhà mình ở một trong hai hướng là Đông hoặc Nam. Đây là hai hướng mát mẻ. Chẳng thế đã có câu: “Vợ hiền hòa nhà hướng Nam!” hoặc “ Vợ già nhà hướng Tây”.

Vẫn có người nghĩ rằng: Năm nay không lợi hướng Nam, cứ chờ đến năm lợi hướng Nam sẽ tiến hành làm nhà! Như vậy là không đúng. Vận khí mỗi năm có hướng tốt, theo vận hành của chín sao. Hướng tốt này, không liên quan gì đến hướng nhà của mỗi người. Thông thường người ta chọn hướng tốt này, để xuất hành đầu năm.

Còn hướng nhà của mỗi người, hoàn toàn phụ thuộc vào tuổi của người ấy. Bởi vì, mỗi người có một mệnh niên và một mệnh cung khác nhau. Mệnh niênMệnh cung quyết định hướng nhà của từng người. Dù người đó làm nhà vào bất cứ năm nào, hướng nhà vẫn không thay đổi.

Nhiều người vẫn phải mua đất, làm nhà hướng Tây hay hướng Bắc. Khi mua chung cư, vẫn có người chọn hướng cửa chính là Bắc hoặc Tây. Tại sao vậy?

Điều này là do sự phối hợp giữa thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch trong thuật Phong Thủy, để xác định phương và hướng nhà của từng tuổi.

Theo Thuyết Âm Dương Ngũ Hành, mỗi người sinh ra đều có một Mệnh Niên trong vòng Hoa Giáp 60 năm, từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Ta thường gọi người ấy tuổi Giáp Tý, Ất Sửu…Bính Ngọ, Đinh Mùi…Nhâm Tuất, Quý Hợi…

Mặt khác, tuổi mỗi người còn ứng với một quẻ trong Tám quẻ (Bát quái) của Kinh Dịch, gọi là Mệnh Cung.

Tám quẻ đó là: Càn – Đoài – Ly – Chấn – Tốn – Khảm – Cấn – Khôn.

Tám hướng cũng ứng với 8 quẻ: Càn – Đoài – Ly – Chấn – Tốn – Khảm – Cấn – Khôn.

BẢNG THUỘC TÍNH CỦA BÁT QUÁI

Bang_thuoc_tinh_bat_quai

Hậu Thiên bát quái trong Kinh Dịch, xác định vị trí phương hướng theo 8 quẻ trên như sau:

Bốn hướng chính: Bắc, Nam, Đông, Tây thuộc 4 quẻ Khảm, Ly, Chấn, Đoài.

Bốn hướng góc: Tây Bắc, Đông Bắc, Đông Nam và Tây Nam thuộc 4 quẻ Càn, Cấn, Tốn, Khôn.

Như vậy, mỗi hướng là cạnh của hình bát giác đều, nhìn tâm một góc 45 độ. (Xem hình 1)

la_ban_hau_thien_bat_quai

Hình 1: 8 hướng và 8 quẻ trên La bàn theo Hậu thiên bát quái

Mệnh cung được chia làm 2 loại: Đông tứ mệnhTây tứ mệnh.

Tám hướng cũng được chia làm 2 loại: Đông tứ trạchTây tứ trạch.

Đông tứ mệnh là những người có mệnh cung: Khảm, Ly, Chấn, Tốn.

Tây tứ mệnh là những người có mệnh cung: Càn, Khôn, Đoài, Cấn.

Người có mệnh cung Đông tứ mệnh, làm nhà theo Đông tứ trạch.

Người có mệnh cung Tây tứ mệnh, làm nhà theo Tây tứ trạch.

Muốn biết mình thuộc mệnh cung nào, xem Bảng tính sẵn Bát trạch mệnh cung của nam nữ sau đây:

BẢNG BÁT TRẠCH MỆNH CUNG

1 – Từ năm 1924 đến năm 1983
Bang_bat_trach_menh_cung_1924_-_1983

BẢNG BÁT TRẠCH MỆNH CUNG

2 – Từ năm 1984 đến năm 2043

Bat_trach_menh_cung_1984_-_2043

Để tính cung mệnh đơn giản và chính xác (ai cũng làm được). Cách làm như sau:

– Trước tiên Lập Bảng:

Lap_bang_tinh_cung_menh

– Lấy năm sinh chia cho 9. Đem số dư đối chiếu bảng trên ta sẽ biết cung mệnh nam hoặc nữ.

Thí dụ:

– Người sinh năm 1979, lấy 1979 chia 9 số dư là 8.

Đối chiếu bảng trên ta có Nam và Nữ đều cung Chấn.

– Người sinh năm 1980, lấy 1980 chia 9 số dư là 9.

Đối chiếu bảng trên: Nam cung Khôn, Nữ cung Tốn.

Lưu ý: Trường hợp chia hết, số dư 0 được coi là dư 9. Hai năm 1980 và 1989 giống nhau.

Chu kỳ Cung mệnh: Cứ 9 năm lặp lại như trước.

Còn một cách tính nhanh nữa là dùng phương pháp loại bỏ 9.

Thí dụ sinh 1979: bỏ 2 số 9, còn lại 1+7=8. vậy nam nữ đều cung Chấn.

Khi nắm được quy luật chu kỳ Cung mệnh, ta tự tính được cung mệnh bản thân; mặt khác có thể kiểm tra và đính chính các bảng đã in sẵn có thể sai sót do quá trình tác nghiệp ấn loát.

Sau khi biết mệnh cung, ta sẽ tìm được bản thân mình làm nhà theo Đông Tứ trạch hay Tây tứ trạch.

Ví dụ: Ông An và bà Mơ đều sinh năm 1985. Đối chiếu bảng trên ta thấy:

– Ông An sinh năm 1985, mệnh niên là Ất Sửu, mệnh cung là Càn, làm nhà theo Tây Tứ Trạch.

– Bà Mơ sinh năm 1985, mệnh niên cũng là Ất Sửu, nhưng mệnh cung lại là Ly, làm nhà theo Đông Tứ Trạch.

Khi biết mệnh cung thuộc quẻ nào, tra vào các bảng dưới đây, ta biết được phương hướng tốt xấu của mình, để quyết định chọn hướng làm nhà.

Phương vị tốt, xấu của bốn mệnh cung TÂY TỨ TRẠCH

(là những người có mệnh cung: CÀN – KHÔN – ĐOÀI – CẤN)

Tay_tu_trach_1

Tay_tu_trach_2

Phương vị tốt, xấu của bốn mệnh cung ĐÔNG TỨ TRẠCH

(là những người có mệnh cung: TỐN – CHẤN – LY – KHẢM)

Dong_tu_trach_1

Dong_tu_trach_2

Xem các bảng trên ta thấy: những người thuộc Đông tứ trạch hoặc Tây tứ trạch, các hướng tốt xấu đều giống nhau về vị trí phương hướng; chỉ khác nhau về mức độ tốt xấu của từng vị trí phương hướng mà thôi.

Xét hai trường hợp ông An và bà Mơ cùng sinh năm 1985, nhưng hướng nhà lại khác nhau rất nhiều:

a) – Ông An sinh năm 1985, mệnh niên Ất Sửu, mệnh cung Càn, làm nhà theo Tây Tứ Trạch. Xem bảng cung mệnh CÀN của Tây Tứ Trạch. Ông An có 4 hướng tốt có thể chọn để làm nhà là:

* ChínhTây: Sinh Khí tốt nhất.

* Tây Nam: Diên Niên tốt nhất.

* Đông Bắc: Thiên Y tốt vừa.

* Tây Bắc: Phục Vị tốt ít.

b) – Bà Mơ sinh năm 1985, mệnh niên cũng là Ất Sửu, nhưng mệnh cung lại là Ly, làm nhà theo Đông Tứ Trạch. Xem bảng cung mệnh LY của Đông Tứ Trạch. Bà Mơ có 4 hướng tốt có thể chọn để làm nhà:

* Chính Đông: Sinh Khí tốt nhất.

* Chính Bắc: Diên Niên tốt nhất.

* Đông Nam: Thiên Y tốt vừa.

* Chính Nam: Phục Vị tốt ít.

Như vậy Ông An và Bà Mơ đều có 4 hướng tốt, gồm 2 hướng tốt nhất, 1 hướng tốt vừa và 1 hướng tốt ít. Còn lại 4 hướng xấu.

Sau khi xem xét kỹ, ông An, bà Mơ có thể chọn phương án tối ưu, quyết định một hướng tốt, hợp bản mệnh để làm nhà.

Ý nghĩa tốt xấu của 8 cung định hướng như sau:

– Cung Sinh khí: (Thuộc sao Tham Lang, hành Mộc, xây nhà vào hướng này sẽ ứng tốt vào các năm Hợi, Mão, Mùi). Cung này Tốt nhất, chủ nhà được khỏe mạnh đại phát tài, tăng phú quý, nhiều con lắm cháu, phát trưởng tử. Có lợi nhất cho con trai, có danh tiếng, tạo ra sức sống dồi dào, tính dục mạnh mẽ. Không được đặt khu vệ sinh, phòng kho ở cung sinh khí…thường hay mất vặt, thất nghiệp, đẻ non, nhiều bệnh tật.

– Cung Thiên y: (Thuộc sao Cự Môn, hành Thổ, xây nhà vào hướng này sẽ ứng tốt vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). Cung này Tốt vừa. Chủ về sức khỏe tốt, lợi cho phụ nữ, vượng tài lộc, tiêu trừ bệnh, tâm tình ổn định, có giấc ngủ ngon, thường có quý nhân phù trợ, luôn đổi mới. Nếu Thiên y ở khu vệ sinh, nhà kho… thường mắc bệnh kinh niên, chứng ung thư.

– Cung Diên niên: (Thuộc sao Vũ Khúc, hành Kim, xây nhà vào hướng này sẽ ứng tốt vào các năm Tỵ, Dậu, Sửu). Cung này Tốt nhất. Là cung hoà thuận, tốt cho sự nghiệp và ngoại giao, với các mối quan hệ khác, vợ chồng hoà thuận, tuổi thọ tăng thêm, bớt kẻ địch, tính hoà dịu, với nữ giới có bạn đời tốt. Nếu Diên niên ở khu vệ sinh, phòng kho… thì hay cãi vã thị phi, nhà cửa không yên ổn.

– Cung Phục vị: (Thuộc sao Tả Phù, hành Thủy, xây nhà vào hướng này sẽ ứng tốt vào các năm Thân, Tý, Thìn). Cung này Tốt ít. Là cung bình yên, trấn tĩnh. Gia chủ tiểu phú. Được phù trì nếu để bàn thờ. Vững cho chủ nhà, tình duyên nam nữ gắn bó, khả năng tài chính tốt, quan hệ cha mẹ vợ con tốt nhưng tính dục giảm sút. Nếu Phục vị ở khu vệ sinh, phòng kho…. Gia chủ thường nóng nảy, luôn cảm thấy bất yên.

– Cung Tuyệt mệnh: (Thuộc sao Phá Quân, hành Kim, xây nhà vào hướng này sẽ ứng xấu vào các năm Tỵ, Dậu, Sửu). Cung này Xấu nhất. Nếu cung Tuyệt mệnh là khu vệ sinh, phòng kho thì chủ nhà có sức khoẻ tốt, tuổi thọ tăng thêm, duyên phận con cái tốt, có tài vận. Nếu cung Tuyệt mệnh vào vị trí tốt như cửa chính, chủ nhân bị bệnh khó chữa, mổ xẻ, đụng xe, mất trộm, trong người cảm thấy không yên ổn, mọi việc tính toán quá đáng, buồn phiền, đau khổ, u sầu, ít nói, ức chế tâm thần, duyên phận con cái bạc bẽo.

– Cung Ngũ quỷ: (Thuộc sao Liêm Trinh, hành Hỏa, xây nhà vào hướng này sẽ ứng xấu vào các năm Dần, Ngọ, Tuất). Cung này Xấu nhất. Tán tài khẩu thiệt. Nếu Cung Ngũ quỷ là khu vệ sinh, nhà kho thì có thể biến xấu thành tốt. Nếu cung Ngũ Quỷ là cửa ra vào, phòng ngủ, bếp; các sự việc lôi thôi vô cớ ập đến, người nhà mổ xẻ ung thư, tai tiếng thị phi, mất trộm, phá sản, hoả hoạn.
– Cung Lục sát: (Thuộc sao Văn khúc, hành Thủy, xây nhà vào hướng này sẽ ứng xấu vào các năm Thân, Tý, Thìn). Cung này Xấu vừa. Cung Lục sát làm khu vệ sinh, kho thì người trong nhà có suy nghĩ đúng đắn, có số đào hoa và lợi cho đuờng tình duyên. Nếu cung Lục sát ở vị trí cửa ra vào, phòng ngủ, bếp, thì tình duyên trắc trở, vợ chồng thường cãi nhau, sự nghiệp không tốt. Riêng với nam giới thì không lo làm ăn, hay rượu chè cờ bạc.

– Cung Hoạ hại: (Thuộc sao Lộc Tồn, hành Thổ, xây nhà vào hướng này sẽ ứng xấu vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.) Cung này Xấu vừa. Cung Hoạ hại nếu làm khu vệ sinh hoặc nhà kho thì người trong nhà được yên ổn, hoà thuận, sức khoẻ tốt, không xảy tai họa. Cửa ra vào, phòng ngủ, bếp phải tránh cung Hoạ hại. Nếu làm, trong nhà thiếu sự thống nhất, tai họa, mệt mỏi vì những việc vụn vặt, hay thưa kiện với người ngoài, thất tài..

II. XÁC ĐỊNH SƠN HƯỚNG – GÓC 15 ĐỘ.

Người xưa quan niệm cái nhà cũng như con người. Người ngồi ghế phải có tựa lưng chắc chắn. Bởi vậy ta thường nghe nói thế đất tốt phải là: “Tả thanh long, hữu bạch hổ, tiền thủy, hậu sơn!”. Cái nhà cũng vậy, đàng sau tựa núi, đàng trước nhìn sông, bên phải, bên trái có rồng chầu, hổ phục!.

Do đó có từ sơn. Sơn là phía sau, hướng là phía trước. Bây giờ ở thành phố và đồng bằng làm gì có núi mà tựa! Không nên câu nệ từ sơn hướng. Quan trọng vẫn là hướng nhà. Hướng nhà là nhìn theo đường thẳng vuông góc với cửa chính trông ra phía trước.

Để xem hướng ta dùng La Bàn. Thuật Phong thủy ban đầu chia La Bàn thành 8 hướng, mỗi hướng 45 độ (45 độ x 8 = 360 độ). Nhưng khoảng cách 45 độ của một hướng là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng thành 3 sơn hướng đều nhau, mỗi sơn hướng 15 độ.

Như vậy, La Bàn dùng xác định hướng nhà hiện tại là 24 sơn hướng. (15 độ x 24 = 360 độ)

Để đặt tên cho từng sơn hướng, người ta lấy 12 Địa Chi, 8 Thiên Can và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn đặt tên cho 24 sơn hướng như sau:

– Hướng BẮC: Gồm 3 sơn hướng NHÂM – TÝ – QUÝ

– Hướng ĐÔNG BẮC: 3 sơn hướng SỬU – CẤN – DẦN

– Hướng ĐÔNG: 3 sơn hướng GIÁP – MÃO – ẤT

– Hướng ĐÔNG NAM: 3 sơn hướng THÌN – TỐN – TỴ

– Hướng NAM: 3 sơn hướng BÍNH – NGỌ – ĐINH

– Hướng TÂY NAM: 3 sơn hướng MÙI – KHÔN – THÂN

– Hướng TÂY: 3 sơn hướng CANH – DẬU – TÂN

– Hướng TÂY BẮC: 3 sơn hướng TUẤT – CÀN – HỢI

Tất cả 24 sơn hướng trên la bàn, xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Hướng BẮC có 3 sơn hướng là NHÂM – TÝ – QUÝ. Sơn hướng TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, sơn hướng NHÂM chiếm 15 độ phía bên phải, sơn hướng QUÝ chiếm 15 độ phía bên trái.

Tất cả các sơn hướng khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ hướng Bắc; 24 sơn hướng lần lượt có tên theo thứ tự:

NHÂM→TÝ→QUÝ→SỬU→CẤN→DẦN→GIÁP→MÃO→ẤT→THÌN→TỐN→TỴ→BÍNH→NGỌ→ĐINH→MÙI→KHÔN→THÂN→CANH→DẬU→TÂN→TUẤT→
CÀN→HỢI. (Xem hình 2)

24_son_huong_tren_la_ban

Hình 2: 24 sơn hướng trên La bàn

Việc phân chia La bàn thành 24 sơn hướng, là điều kiện tốt để ta chọn hướng nhà chính xác hơn.

Trên La Bàn 8 hướng (Hình 1), mỗi hướng là cạnh của đa giác đều 8 cạnh. Mỗi cạnh nhìn tâm một góc 45 độ, vì thế độ sai lệch về hướng khá lớn.

Trên La Bàn 24 sơn hướng (Hình 2), mỗi hướng là cạnh của đa giác đều 24 cạnh. Mỗi cạnh nhìn tâm một góc 15 độ, nên độ sai lệch về hướng càng ít hơn.

Mặc định trên La Bàn: Điểm chính Bắc là 0 độ, chính Đông là 90 độ, chính Nam là 180 độ, chính Tây là 270 độ. Bởi vậy số độ của mỗi hướng được giới hạn trong một phạm vi cụ thể và không thay đổi.

Hướng Bắc – Khảm: Từ 337,5 độ đến 22,5 độ. Hướng Bắc chia thành 3 hướng nhỏ:

– Hướng Nhâm: Từ 337,5 độ đến 352,5 độ.

– Hướng Tý: Từ 352,5 độ đến 7,5 độ.

– Hướng Quý: Từ 7,5 độ đến 22,5 độ. (Xem các bảng sau)

Cac_huong

Thực tế, không ai làm nhà vào chính giữa các hướng trong tám hướng, bao giờ cũng lệch một số độ về bên nào tốt nhiều hơn. Như vậy hướng nhà sẽ ở vào một hoặc hai, trong 24 sơn hướng.

Trở lại ví dụ trên để chọn hướng nhà cho Ông An và Bà Mơ.

– Ông An sinh năm 1985, mệnh niên Ất Sửu, mệnh cung Càn, làm nhà theo Tây Tứ Trạch. Xem bảng mệnh cung CÀN của Tây Tứ Trạch. Ông An có 4 hướng tốt có thể chọn để làm nhà là:

* ChínhTây: Sinh Khí tốt nhất.

* Tây Nam: Diên Niên tốt nhất.

* Đông Bắc: Thiên Y tốt vừa.

* Tây Bắc: Phục Vị tốt ít.

Hướng Chính Tây Sinh Khí Tốt nhất, nhưng hướng Tây nóng! Hướng Tây bắc cũng tốt nhưng bị gió lạnh, nên chọn hướng Tây Nam ở 225 độ.

Như vậy Ông An làm nhà hướng Khôn – Tây Nam, 225 độ, thuộc cung Diên Niên, sơn Vinh Phú. Tọa thủ Cấn – Đông Bắc, cung Thiên y, sơn Quan tước. (xem hình 3)

2015-04-01_165555

Hình 3: Ông An: Hướng Khôn – Tây Nam. 225 độ

Sơn hướng Khôn(Vượng Tài). Tọa thủ: Cấn

b) – Bà Mơ sinh năm 1985, mệnh niên cũng là Ất Sửu, nhưng Cung mệnh lại là Ly, làm nhà theo Đông Tứ Trạch. Xem bảng Cung mệnh LY của Đông Tứ Trạch. Bà Mơ có 4 hướng tốt có thể chọn để làm nhà là:

* Chính Đông: Sinh Khí tốt nhất.

* Chính Bắc: Diên Niên tốt nhất.

* Đông Nam: Thiên Y tốt vừa.

* Chính Nam: Phục Vị tốt ít.

Trường hợp Bà Mơ, rộng đường chọn lựa hơn ông An. Có 2 sơn hướng mát mẻ mở cửa chính:

– Hướng thứ nhất: Làm nhà hướng Ly – Nam,185 độ, cung Phục Vị, sơn hướng Ngọ, Đinh (Thân Hôn, Hoan Lạc). Tọa thủ Tý, cung Diên Niên, sơn Vượng Trang. (Xem hình 4)

Nha_huong_Ly

Hình 4: Bà Mơ (Hướng thứ nhất) Hướng Ly – Nam – 185 độ.

Sơn hướng Ngọ,Đinh (Thân hôn – Hoan lạc). Tọa thủ Khảm

– Hướng thứ 2: nhà hướng Đông – Chấn – 95 độ. cung Sinh Khí. Sơn hướng Mão Ất (Thân Hôn – Hoan Lạc). Tọa thủ Dậu, sơn hướng Vượng Trang. (Xem hình 5)

Nha_huong_Dong_-_Chan

Hình 5: Bà Mơ (Hướng thứ hai) Hướng Chấn – Đông – 95 độ.

Sơn hướng Mão – Ất (Thân hôn – Hoan lạc). Tọa thủ Dậu.

Trong 24 sơn hướng, có 12 sơn hướng tốt và 12 sơn hướng xấu.

Nội dung tốt xấu của 24 sơn hướng

1. Phúc đức – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Các công việc như sản xuất, giao dịch đều tăng trưởng.

2. Ôn hoàng – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu, bệnh tật nhiều, làm ăn khó, tiếng thị phi, công việc bất lợi .

3. Tấn tài – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt, làm ăn thuận lợi, công thành danh toại.

4. Trường bệnh – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Bệnh tật, con cháu hư hỏng, làm ăn thua lỗ, chịu tiếng thị phi.

5. Tố tụng – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Gia sản hay bị tranh chấp, tiểu nhân hãm hại, sản xuất kinh doanh thua thiệt, cuộc sống không được yên ổn.

6. Quan tước – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Quan lộc tăng tiến, tài sản gia tăng, sản xuất hay chăn nuôi phát đạt.

7. Quan qúy – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Sinh quý tử, chức vị cao, cơ ngơi thịnh vượng, chăn nuôi kinh doanh phát tài, giàu có.

8. Tự ải – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Thiệt nhân khẩu, quan sự bất lợi, nam ly hương, nữ bệnh tật, chăn nuôi thua thiệt.

9. Vượng trang – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Cơ ngơi tài sản gia tăng, nhân khẩu thịnh đạt, sản xuất kinh doanh phát đạt. Lợi cho chủ mệnh.

10. Hưng phúc: – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Trường thọ, an khang thịnh vượng, trai gái thanh lịch. Lợi cho con thứ.

11. Pháp trường – xấu: Đặt cửa vào hướng này rất xấu. Đoản thọ, kiện cáo tù đày, tha phương cầu thực.

12. Điên cuồng -xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Gia đình lục đục, hao tốn tài sản, con cái bạo ngược, nhân khẩu bất an.

13. Khẩu thiệt – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Bị vu oan giáng họa, lắm điều thị phi, huynh đệ bất hòa, chăn nuôi thất bại.

14. Vượng tàm – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Gia đạo nghiêm túc, cơ ngơi tài sản thịnh vượng, đông đúc con cháu, làm ăn cần kiệm, chăn nuôi phát đạt.

15. Tấn điền – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Phúc lộc lâu dài, con cháu hiền tài, tiền bạc, cơ ngơi tài sản sung túc.

16. Khốc khấp – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Gia đình luôn luôn bị tai họa, đoản thọ, nhiều bệnh tật, tiền tài bị hao tổn, chăn nuôi sản xuất bất lợi.

17. Cô quả – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Quả phụ, tha phương cầu thực, phá sản, chăn nuôi bất lợi.

18. Vinh phú – tốt: Đặt cửa vào hướng này rất tốt. Vượng nhân khẩu, gia đình vô tai họa, phú qúy vinh hoa. Tốt nhất cho người có mệnh hỏa.

19. Thiếu vong – xấu: Đặt cửa vào hướng xấu. Hại nhân khẩu, rượu chè, háo sắc, nhiều bệnh tật.

20. Xương dâm – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Nam nữ ham mê tửu sắc, hại gia phong, nuôi gia súc bất lợi.

21. Thân hôn – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt. Vượng nhân khẩu, chăn nuôi thịnh vượng, buôn bán phát tài. Lợi cho người mệnh hỏa.

22. Hoan lạc – tốt: Đặt cửa vào hướng tốt. Phát tài, Cơ ngơi điền sản, chăn nuôi hưng vượng. Lợi cho người có mệnh thủy.

23. Tuyệt bại – xấu: Đặt cửa vào hướng này xấu. Gia tài phá tán, cha con không quan tâm đến nhau.

24. Vượng tài – tốt: Đặt cửa vào hướng này tốt: Kinh doanh buôn bán phát tài, phú quý, con cái hiếu thảo. Lợi cho người có mạng hỏa.

Lưu ý: Nội dung tốt xấu của 24 sơn hướng không cố định. Nội dung này sẽ thay đổi, phụ thuộc vào hướng nhà thuộc quẻ nào trong 8 quẻ. Cụ thể là:

– Nhà hướng Chấn (Đông) bắt đầu Phúc Đức tại Tỵ.

– Nhà hướng Đoài (Tây) bắt đầu Phúc Đức tại Hợi.

– Nhà hướng Khảm (Bắc) bắt đầu Phúc Đức tại Dần.

– Nhà hướng Ly (Nam) bắt đầu Phúc Đức tại Thân.

– Nhà hướng Càn (Tây Bắc) bắt đầu Phúc Đức tại Hợi.

– Nhà hướng Khôn (Tây Nam) bắt đầu Phúc Đức tạiThân.

– Nhà hướng Tốn (Đông Nam) bắt đầu Phúc Đức tại Tỵ.

– Nhà hướng Cấn (Đông Bắc) bắt đầu Phúc Đức tạiThân.

Sau khi xác định điểm bắt đầu Phúc Đức ở sơn hướng nào, ta lần lượt đặt tiếp 23 sơn hướng còn lại theo thứ tự đã nêu, để biết tốt xấu các sơn hướng còn lại. Theo chiều kim đồng hồ, thứ tự là:

Phúc Đức→Ôn Hoàng→Tấn Tài→Trường Bệnh→Tố Tụng→Quan Tước→→Quan Quý→Tự Ải→Vượng Trang→Hưng Phúc→Pháp Trường→ Điên Cuồng→

→ Khẩu Thiệt →Vượng Tàm→Tấn Điền→Khốc Khấp→ Cô Quả→ Vinh Phú→ Thiếu Vong→Xương Dâm→Thân Hôn→Hoan Lạc→ Tuyệt Bại→ Vượng Tài.

Trở lại trường hợp ông An và bà Mơ, ta thấy cung Phúc Đức của hai người ở các vị trí khác nhau:

* Nhà ông An hướng KHÔN, Phúc đức tại THÂN.

* Nhà bà Mơ có thể chọn 2 hướng:

– Hướng LY, Phúc đức tại THÂN.

– Hướng CHẤN, Phúc đức tại TỴ.

Việc xác định hướng nhà là chọn hướng cửa chính cho ngôi nhà. Tùy vào vị thế của mảnh đất để ta quyết định mở cửa chính. Nơi có đất rộng, mặt trước của nhà dài, có thể mở nhiều cửa; nhưng cũng phải xác định vị trí của cửa chính.

Cửa chính bao giờ cũng cùng hướng với hướng nhà. Cửa chính là nơi đón vượng khí từ ngoài vào. Một yếu tố quan trọng ảnh hướng tới chủ nhà và các thành viên trong gia đình.

Tóm lại để xác định hướng nhà theo Phong Thủy, phải qua hai bước:

Bước thứ nhất: Căn cứ vào mệnh niênmệnh cung của bản thân, để tìm mình làm nhà thuộc Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch. Rồi chọn một hướng tốt phù hợp. Phạm vi hướng là 45 độ.

Bước thứ hai: Để chính xác hơn về hướng nhà, phải cân nhắc xem xét và quyết định nhà mình ở vị trí bao nhiêu độ, thuộc sơn hướng nào tốt trong 24 sơn hướng. Phạm vi hướng nhà lúc này tối thiểu là15 độ, tối đa trong phạm vi 30 độ.

Trường hợp Bà Mơ mở cửa chính ở cung Sinh khí. Trong cung Sinh Khí lại có 3 sơn hướng, sơn hướng xương dâm xấu cần tránh. Hướng Nam phải lệch Tây 5 độ. Hướng Đông cũng lệch năm 5 độ. Cửa chính vào 2 sơn hướng Thân hôn – Hoan lạc tốt.

III – XEM XÉT HƯỚNG NHÀ TỐT XẤU RA SAO?

Hướng nhà tốt hay xấu, là một vấn đề quan tâm đặc biệt của những người làm nhà. Chúng ta đều biết bốn phương tám hướng không thay đổi.

Hai hướng chính Đông và Nam, cũng như hai hướng góc Đông Nam và Tây Nam bao giờ cũng thuận lợi: được đón gió mát mẻ, ánh sáng dịu, không nóng như các hướng Tây, Tây Bắc và rét buốt phải đón gió hướng Bắc, Đông Bắc.

Môn Phong Thủy ra đời ở Trung quốc cách đây hàng ngàn năm, khi đó điều kiện tự nhiên và con người hoàn toàn khác bây giờ. Cảnh quan còn hoang sơ, môi trường sinh thái rất sạch. Số lượng người còn rất ít. Điều kiện khí hậu Trung quốc lại khác với ta rất nhiều.

Ngay ở Việt Nam, chỉ trong vòng hơn nửa thế kỷ, dân số tăng gấp bốn lần. Từ trên dưới 20 triệu năm 1945, đến nay đã trên 80 triệu người. Người đông thì đất chật, nhất là thành phố. Mọi người đổ dồn về thành phố, làng quê cũng thành phố! Nhà ở ngày càng cao và cao …cao…mãi!

Cho đến 1975 nước ta vẫn cơ bản là một nước thuần nông, nhà máy với quy mô nhỏ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Sau 20 năm đổi mới, đất nước có nhiều thay đổi! Kinh tế xã hội hoàn toàn là một bộ mặt mới.

Một hệ quả không tránh khỏi là, môi trường sinh thái ngày càng thay đổi theo hướng bất lợi cho con người. Ngôi nhà của ta dù có được hướng đẹp, nhưng lại ở một vị trí không tốt, phải chịu ô nhiễm nặng về khí hậu, bụi, nước, không khí, tiếng ồn…Ấy là chưa tính đến những cơn mưa, luồng gió nhiễm phóng xạ; hay lở núi, sụt đất, ngập lụt…Liệu ta cứ theo Phong Thủy để làm nhà theo hướng bất lợi ấy?

Sở dĩ có sự ngộ nhận về hướng tốt xấu là vì, có nhiều quan điểm khác nhau và thiếu giải thích rõ ràng. Có ý kiến cho rằng Phong Thủy đã đúc kết hàng ngàn năm, nên luôn đúng. Trong khi thế gian biến cải vũng nên đồi, khí hậu thay đổi khác xưa nhiều lắm.

Phong thuỷ có câu “nhất vị, nhị hướng”, tức là vị trí ở phải được đưa lên hàng đầu, rồi mới đến hướng nhà. Bởi lẽ vị trí ở phải phù hợp với yêu cầu công việc và cách sống của chủ nhà. Người làm kinh doanh, phải ở nơi giao lưu trao đổi hàng hóa. Dù không đẹp hướng, nhưng là nơi vẫn có thể “một vốn bốn lời!”. Công chức làm công ăn lương, cần ổn định trong một căn hộ chung cư, để “sáng cắp ô đi tối cắp về!”…

Như vậy, xem xét hướng nhà trước hết phải xem xét vị trí. Dù hướng không đẹp, nhưng phù hợp với mình, không nên bỏ qua. Không nhất thiết “nghe thầy nói hợp hướng Đông Bắc” thì cố tìm bằng được nhà hướng Đông Bắc, mà xem nhẹ các yếu tố khí hậu, giao tiếp và phương vị.

Cần phân tích xem bốn hướng trên tốt xấu bao nhiêu phần, khả năng khắc phục nhiều hay ít, có ảnh hưởng gì đến môi trường, con người, kết cấu xây dựng hay không.

Theo bát trạch mệnh cung, mỗi người đều có 4 hướng tốt và 4 hướng xấu; có thể dễ dàng điều chỉnh để hướng, mệnh, trạch phối hợp với hướng giao tiếp tốt và hướng khí hậu trong lành. Kể cả trường hợp chủ nhà gặp hướng không hợp tuổi, nhưng vợ và các con trong gia đình lại hợp; ngôi nhà vẫn tốt cho đa số, chỉ cần thay đổi hướng theo người đứng chủ. Theo nguyên tắc loại trừ “đa cát thắng thiểu hung” để chọn giải pháp nào đạt nhiều điều tốt hơn là được.

Khi làm nhà hợp mệnh, nhưng lại bất lợi về ánh sáng và chiều gió, vẫn có thể dùng kết cấu, hình khối lồi thụt để bao che, ngăn bớt bức xạ, mở cửa đón gió ở các hướng tốt hơn. Thậm chí nhà phố hướng tây chưa hẳn đã nóng, biết cách khắc phục có thể dùng lam hoặc trồng cây che chắn, xử lý bao lơn cây xanh. Mặt hông dài được hướng nam, mở giếng trời hoặc cửa sổ trên cao thì vẫn lấy gió rất mát.

Tổng hợp các yếu tố về bản thân con người và môi trường, ta có được giải pháp chọn lựa hướng nhà sao cho phù hợp nhất. Bốn loại hướng nêu trên, phải được quan tâm và xử lý cụ thể từ xa đến gần, chứ không nên máy móc chỉ là hướng hợp tuổi.

Người xưa nói: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nôm na là: lấy cái không thay đổi để ứng phó với mọi cái thay đổi. Cái không thay đổi ở đây là vị trí tốt của ngôi nhà, phải biết xử lý thay đổi mọi yếu tố có thể làm được; để vượng khí luôn lưu thông, có đủ ánh sáng và không khí trong lành, mà vẫn giữ được vị trí tốt của ngôi nhà.

Trong một ngôi nhà như vậy, chắc chắn đại gia đình ấy sẽ có cuộc sống an lành, vạn sự như ý!.

Một việc nhiều người còn băn khoăn: Ngôi nhà của ông bà, cha mẹ để lại, hiện ta ở nhưng lại không hợp hướng tuổi của ta. Liệu có phải phá đi làm lại cho hợp hướng tuổi?

Khi ông bà, cha mẹ làm nhà là đã xem hướng tuổi của các cụ rồi. Trải bao năm tháng cả đại gia đình đã sinh sống và phát triển hanh thông. Nay ta ở, là ta thừa hưởng PHÚC của ông bà cha mẹ để lại. Ông bà, cha mẹ như cây cao bóng cả trùm bóng mát, bao bọc ta trong tình thương bao la. Chẳng dại gì mà bỏ LỘC của các cụ đã dành lại cho ta. Chẳng thế mà rất nhiều nhà vẫn giữ nguyên ngôi nhà cổ của các cụ. Con cháu họ vẫn làm ăn tấn tới, nhiều người thành đạt có danh vọng.

Trừ trường hợp do yêu cầu bất khả kháng, buộc ta phải làm nhà mới; đương nhiên lúc này ta phải quan tâm hướng nhà hợp tuổi.

Khi xem xét hướng nhà, có một số khái niệm thường đề cập tới như: Minh đường, Tâm nhà, Huyền quan. Xin giời thiệu thêm để tham khảo:

– Minh đường:

Minh đường là khoảng trống trước nhà, tạo tầm nhìn thông thoáng. Minh đường tốt – xấu, phụ thuộc vào khoảng trống đó bị ảnh hưởng bởi khách quan. Ví như mặt trước rộng nhưng lại kế cận đường lớn, đường giao cắt hoặc nhà xưởng; giao thông nguy hiểm, khói bụi ô nhiễm, thì không tốt. Muốn xác định được sự tốt xấu cần quan sát hình thế – cảnh vật phụ cận của ngôi nhà.

Minh đường tốt: Từ trong nhà nhìn ra phải thoáng tầm mắt, không bị che chắn, luồng sinh khí chu chuyển tốt.

Minh đường xấu: Trước nhà có địa hình khúc khuỷu, công trình xây cất lộn xộn, xiêu vẹo đâm vào nhà mình (Kiếp Sát), hoặc trống không trơ trọi, sông lớn nước dữ chảy qua thì Tán Phong môi trường ở bị xấu đi nhiều.

Gặp thế Minh đường xấu, khắc phục bằng trồng cây xanh tạo bình phong che chắn, hoặc hồ nước để giảm tác động trực tiếp. Có thể chỉ cần một khoảng sân với thảm cỏ và cây xanh, tường chắn thấp cũng đủ tạo thành một Minh đường tốt.
Nơi đất rộng rãi, cũng nên tạo một Minh đường tốt, là điều cần cho ngôi nhà. Điều này dành cho biệt thự, nhà nghỉ cuối tuần; hoặc ở vùng quê thoáng đãng.

Nơi đất chia lô, để làm nhà ống ở phố, có muốn cũng không có điều kiện! Biết cách khắc phục vẫn có Minh đường. Nếu không bám mặt đường kinh doanh, có thể dành đất làm sân, có cây xanh, thảm cỏ…tường bao che chắn, cũng là một Minh đường tốt; còn là một gara dã chiến cho chỗ để xe!

– Tâm nhà:

Tâm nhà hiểu theo nghĩa nôm na là điểm trọng tâm của ngôi nhà. Trong xây dựng truyền thống, khi đất ở còn rộng rãi, phần lớn nhà làm hình chữ nhật. Việc xác định tâm nhà rất đơn giản, tâm nhà là giao điểm của hai đường chéo hình chữ nhật ấy.

Với những ngôi nhà hình thù khó xác định, phải phân thành các góc nhỏ. Mỗi góc là một hình vuông hay hình chữ nhật, phải xác định tâm riêng biệt, sau đó tìm tâm của các tâm đó. Với đất hình đa giác, cần loại bỏ các góc thừa để dễ xác định tâm. Còn với thế đất hình chữ L thì tâm chính là giao điểm 2 đường trung tuyến của 2 cạnh.

Bây giờ đất làm nhà, không phải lúc nào cũng được vuông thành sắc cạnh như ý. Vì muốn tận dụng triệt để diện tích đất để làm nhà, nên có nhiều hình dáng nhà được sáng tạo, đại thể gọi là một đa giác có nhiều cạnh. Vì thế xuất hiện nhiều khái niệm mới: Nhà siêu mỏng, nhà vô định hình!

Có một cách đơn giản theo kinh nghiệm trong xây dựng là: Dựng một hình đồng dạng của căn nhà đó trên bìa cứng, theo một tỷ lệ thích hợp. Cắt bỏ phần thừa của tấm bìa, chỉ để lại phần sơ đồ căn nhà mà thôi. Rồi lấy một vật nhọn (như đầu bút chì, bút bi…) nâng tấm bìa cứng có hình sơ đồ căn nhà lên. Tới lúc nó nằm thăng bằng trên đầu cây bút, điểm đó chính là tâm của căn nhà.

Xác định tâm nhà là việc đầu tiên, nơi đặt La Bàn để tìm cung theo mệnh trạch và xác định hướng cho ngôi nhà. Trên cơ sở đó, vẽ sơ đồ thiết kế xây dựng chính xác theo hướng và vẽ hình phối cảnh, để có cái nhìn tổng quan về ngôi nhà, trước khi xây dựng.
Xác định cửa chính theo hướng đã chọn, nơi đón luồng vượng khí qua huyền quan và chu chuyển vượng khí trong ngôi nhà.

– Huyền quan:

Huyền quan là khu vực sau cửa chính, trước khi vào phòng khách. Đây là nơi làm giảm những xung đột từ bên ngoài vào trong nhà và cũng là nơi bảo vệ “sinh khí” bên trong của ngôi nhà. Huyền quan là con đường, là bước đệm mà các luồng khí phải đi qua trước khi vào nhà, vì thế vị trí của nó tốt xấu thế nào, đều có thể ảnh hưởng trực tiếp tới phong thuỷ của căn nhà.

Huyền quan là vị trí xung yếu nhất, khi bước vào trong căn nhà có ấn tượng cảm mến đầu tiên. Hiện nay do đất chật, lại muốn tận dụng tối đa diện tích sử dụng nên chưa chú ý đến huyền quan. Ngay sau cửa chính là phòng khách luôn.

Bây giờ, do nhận thức và đời sống của người dân ngày được nâng cao; khi xây dựng nhà ở, huyền quan đã được chú ý nhiều hơn, vừa đảm bảo lợi về phong thuỷ lại tiết kiệm trong xây dựng.

Huyền quan tốt tạo điều kiện cho khí phong thuỷ tốt vào nhà. “Khí” hay còn gọi là dòng năng luợng của ngôi nhà, khác với không khí và ánh sáng tự nhiên. Nó đuợc hình thành do sự tuơng tác và vận động của các đối tuợng liên quan. Khí trong một ngôi nhà liên quan tới kết cấu của ngôi nhà đó, sự vận động của con nguời đi lại, hoặc là do hình thể của ngôi nhà đem lại.

Huyền quan còn có tác dụng che chắn, làm “duyên” cho phòng khách! Tăng thêm vẻ đẹp của ngôi nhà. Huyền quan cần phải thông thoáng, tạo cảm giác thư giãn cho khách bước vào phòng khách, lại vừa khiến cho khí phong thủy thông thấu dễ dàng vào phòng.

Huyền quan phải luôn gọn gàng sạch sẽ, trang trí khu huyền quan không nên quá cao hoặc quá thấp, không bầy biện quá nhiều đồ vật, không gian lộn xộn, gây cản trở khí phong thủy đưa vào nhà. Cần tạo cảm giác ấm cúng, thân thiện, cảm mến mỗi khi ta vào nhà!

– Nhà tụ khí và tán khí:

Phong thủy nhà ở, có hai hình thức tụ khí và tán khí. Đây là sự tương tác vật lý của các dạng vật chất, môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới cuộc sống con người. Khí ở đây chính là năng lượng được sinh ra do tương tác giữa con người với đồ vật và môi trường xung quanh. Khí trong nhà bao gồm có khí âm và khí dương. Khí dương được sinh ra do những tương tác giữa con người với đồ vật, như sắp xếp nội thất, luân chuyển trong nhà. Khí âm chính là do cấu trúc thiết kế và môi trường ngôi nhà mà sinh ra.

Ngôi nhà dễ tụ khí thường do các đặc điểm về môi trường xung quanh, tập trung nhiều hay ít năng lượng và còn phụ thuộc vào chính cấu trúc bên trong ngôi nhà có tạo điều kiện để các dòng năng lượng tốt được lưu giữ được không.

Những nhà có con đường ngang qua hoặc hướng thẳng vào, xe cộ qua lại sẽ khiến cho căn nhà nhận rất nhiều năng lượng. Nếu không thiết kế chống ồn, người trong nhà sinh bệnh thần kinh.

Ngoài những trường hợp tụ khí còn có thể kể đến những căn nhà tán khí, hoặc tụ năng lượng xấu lâu dài, không lợi cho người ở, phát sinh những hiệu ứng không tốt. Đó là những ngôi nhà có cấu trúc: các cửa trong nhà đều thẳng ra cửa chính sẽ không tụ được khí. Hay những ngôi nhà ẩm thấp, không khí ngột ngạt cũng không tốt cho các thành viên trong gia đình, vì tụ khí âm quá lâu dài.

Con người sống cần nhiều năng lượng dương, để có thể phát triển được thuận lợi hơn, người là sinh vật ưa sự vận động và sinh sống ở những nơi cao ráo sạch sẽ, chứa nhiều dương khí.

Vì những lẽ đó ngôi nhà tụ nhiều khí dương, năng lượng tốt thì cuộc sống của những người trong căn nhà đó sẽ trở nên tốt đẹp hơn, tỉnh táo trong suy nghĩ, hiệu quả công việc của họ cao hơn.

CHƯƠNG II: BỐ TRÍ TRONG NHÀ THEO PHONG THỦY

Trên cơ sở mảnh đất đã chọn lựa, lập hồ sơ thiết kế xây dựng. Đây là công việc chuyên môn của kiến trúc sư, nhà thầu xây dựng. Các công ty Tư vấn thiết kế xây dựng, sẽ tận tình chu đáo làm từ A đến Z, theo yêu cầu của chủ nhà.

Ngoài bốn yêu cầu: tiện dụng, thẩm mỹ, kinh tế và bền vững; cần chú ý đến yêu cầu Phong Thủy bố trí trong nhà. Nhiều người quan tâm đến vấn đề này và thực hiện vô cùng chặt chẽ. Từ màu sơn tường, đến vật dụng theo luật sinh khắc của Ngũ hành, hợp tuổi chủ nhà…bố trí nơi đặt bàn thờ, phòng ngủ, phòng ăn, phòng vệ sinh…

Xin giới thiệu một số nội dung chính cần chú ý.

I- NƠI ĐẶT BÀN THỜ

Thờ cúng tổ tiên, một phong tục lâu đời đã trở thành một luật tục; có sức sống trường tồn qua bao thế hệ, chắc chắn sẽ tồn tại mãi trong đời sống tâm linh của người Việt. Không những thể hiện chữ hiếu của con cháu với tổ tiên ông bà, mà còn là lòng tin vào tổ tiên vẫn luôn theo sát chứng giám và phù hộ cho con cháu.

Theo Phong thủy: Nếu bàn thờ đặt ở hướng tốt, thu nạp được sinh khí thì con cháu sẽ hưởng phúc, làm ăn phát đạt, mọi sự hanh thông. Trái lại, nếu bàn thờ đặt ở hướng xấu, gia đạo suy thoái, mọi sự không may mắn.

Hướng bàn thờ phải đặt ở vị trí tốt và cũng quay về hướng tốt (Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)

Ví dụ: Ông An mệnh cung CÀN đặt bàn thờ ở hướng Đông Bắc (Thiên Y), mặt trước bàn thờ nhìn về Tây Nam (Diên Niên). Hướng của bàn thờ là hướng ngược với chiều người đứng khấn. Khi cúng, ông An quay về Đông Bắc.

Phòng thờ có thể kết hợp với phòng đọc sách, tiếp khách hay là nơi sinh hoạt gia đình trang trọng. Không gian ấm cúng, ông bà tổ tiên luôn ở bên con cháu. Không gian thờ cúng mang tính tâm linh, cần đặt yếu tố gần gũi và giáo dục truyền thống lên hàng đầu, để kết nối các thế hệ và gìn giữ gia phong nếp nhà.

Những điều cần tránh:

– Không bố trí chỗ ngủ hoặc nơi giải trí ồn ào chung với phòng thờ, vì thiếu trang nghiêm.

– Không đặt bàn thờ ở chiếu nghỉ cầu thang hoặc ở tum cao trên cùng.

– Không đặt bàn thờ gần nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh.

– Không đặt bàn thờ ở lối đi lại.

– Không đặt bàn thờ ở trên hoặc dưới nhà vệ sinh (nhà tầng thường mắc lỗi này)

Hiện nay, ở đô thị có rất nhiều nhà cao tầng và gian thờ thường đặt trên tầng thượng. Cần chú ý không để bàn thờ mà ở tầng trên hoặc dưới có nhà vệ sinh. Uế khí của nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thờ cúng gia tiên.

II- HƯỚNG BẾP.

Bếp tuy nhỏ, chiếm một không gian không nhiều, nhưng lại có vị trí rất quan trọng. Bếp là nơi chế biến thức ăn, chất lượng xấu tốt của thức ăn cũng từ đây. Ăn ngon bổ dưỡng cho cơ thể khỏe mạnh hay ngộ độc thức ăn… nên mọi bệnh tật cũng từ bếp mà ra. Vì vậy, việc đặt bếp là vô cùng quan trọng, nó chi phối nguồn tài lộc của cả gia đình cũng như bệnh tật. Dân gian có câu: “Ăn hết nhiều ở hết mấy!”, đã phần nào cho thấy sự hoạt động thường xuyên của bếp trong cuộc sống của chủ nhà.

Chọn được hướng bếp hợp lý, không chỉ đem lại sự thuận tiện cho chủ nhà trong việc nấu ăn hàng ngày, mà còn có lợi cho sức khỏe; một yếu tố đảm bảo cho các thành viên trong nhà có cơ sở phát triển tốt.

Để thuận theo phong thủy, lại đạt các yếu tố khoa học là điều mà chủ nhà không thể bỏ qua và yêu cầu các kiến trúc sư phải chú ý và áp dụng trong xây dựng nhà ở.

Nguyên tắc cơ bản khi chọn hướng cho bếp là: tọa hung hướng cát (ngồi trên cái dữ, hướng về cái lành). Như vậy bếp sẽ trấn áp được hung thần, lại hút được sinh khí. Trước kia cửa bếp là nơi đốt lửa, nhưng ngày nay sử dụng bếp điện, bếp gas thì núm điều chỉnh lửa chính là cửa bếp. Cửa bếp phải đặt quay về hướng tốt.

– Người làm nhà theo Tây tứ trạch, mệnh cung là Càn, Đoài, Cấn, Khôn đặt bếp toạ Đông Nam, hướng Tây Bắc.

– Người làm nhà theo Đông tứ trạch, mệnh cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn đặt bếp toạ Tây hướng Đông, hoặc toạ Tây Bắc hướng Đông Nam.

Đặt hướng bếp hợp phong thủy, không phải là quá mê tín mà có cơ sở khoa học. Đó là điều mọi người phải thừa nhận. Ông cha ta phải trải qua cả ngàn năm mới đúc kết được. Muốn đặt bếp cho đúng cần chú ý:

Không được đặt bếp gần cửa sổ hoặc ô thông gió. Vì gió mưa, bụi bặm từ bên ngoài dễ làm bẩn đồ ăn, thức uống khi đang đun nấu.. Mặt khác gió thổi hơi nóng và mùi thức ăn vào trong nhà. Nếu muốn nhà bếp thông thoáng, dùng quạt hút mùi.

Không nên đặt bếp ở hướng Tây vì theo quan niệm dân gian, hướng Tây thuộc hành Kim khắc với bếp thuộc Hỏa. Hơn nữa, mặt trời lặn về hướng Tây, khi chiều về, với ánh nắng gay gắt sẽ làm thức ăn dễ ôi thiu và việc nấu nướng cũng khá bất tiện. Bếp cũng không nên đặt ở hướng Nam vì hỏa khí của hướng Nam rất mạnh. Hai hỏa gặp nhau sẽ hết sức nóng, không có lợi cho gia chủ. Nhưng trước hai hướng này đã có tường hoặc bức chắn thì dùng được.

Không được đặt bếp thẳng với cửa chính, khí từ ngoài xông thẳng vào bếp sẽ không có lợi. Hơn nữa, bếp là nơi có nhiều đồ dùng cần tránh quá lộ liễu, làm mất tính thẩm mỹ của ngôi nhà.

Không được đặt bếp đối diện hoặc sát với nhà vệ sinh. Đây là điều mà những ngôi nhà phố có diện tích hạn chế hay mắc phải. Nhà vệ sinh có nhiều thứ bẩn dễ ảnh hưởng đến bếp, lây bệnh cho người. Mặt khác cũng gây phản cảm về tâm lý khi ăn.

Bếp là nơi nấu nướng, thường xuyên sinh nhiệt nên rất nóng bức. Trong khi đun nấu, bếp còn sinh ra khói dầu mỡ có hại. Chính vì thế, cần tránh đặt bếp cạnh hoặc đối diện với cửa phòng ngủ vốn là nơi để chủ nhà nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.

Cần tránh đặt bếp phía trên đường ống cấp, thoát nước. Bếp thuộc hỏa kỵ thủy. Hơn nữa, nếu đường ống nước gặp sự cố thì việc sửa chữa sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

III- PHÒNG NGỦ

Phòng ngủ đối với con người vô cùng quan trọng. Nơi ta nghỉ ngơi thư giãn lấy lại sức lực sau một ngày làm việc. Không ít những ý tưởng lớn cũng nảy sinh từ phòng ngủ. Phòng ngủ còn là nơi thăng hoa của Hạnh phúc lứa đôi, gieo những hạt giống cho mùa sau… Gần 1/3 thời gian sống của đời người dành cho việc ngủ.

Phòng ngủ bố trí hợp lý trong căn nhà, nơi thông thoáng nhưng lại kín đáo và yên tĩnh. Tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên và khí trời là tốt nhất. Không nên “mờ mờ nhân ảnh” làm ta phải chịu cảm giác u ám, âm khí nặng nề! Quan trọng là bố trí hướng giường ngủ.
Ngủ là lúc tiếp nạp sinh khí nhiều nhất. Chính vì vậy, cần xác định hướng giường ngủ hợp lý, để tăng sự may mắn và sức khoẻ cho mỗi người. Từ trường trái đất cũng ảnh hưởng tới giấc ngủ. Nếu hướng giường không tốt sẽ tổn hại đến thần kinh và sức khoẻ, dễ mang lại rủi ro và bệnh tật. Hướng giường là hướng từ đầu giường đến cuối giường. Hướng giường ngủ được xác định riêng biệt cho mỗi thành viên trong gia đình. Giường ngủ đặt ở hướng tốt của bản mệnh người đó.

Nguyên tắc là phối giữa mệnh cung của người với hướng giường để được các sao tốt Sinh Khí, Phục Vị, Thiên Y, Phúc Đức. Những người mệnh Thuỷ, Mộc, Hoả đều thuộc “mệnh Đông tứ”, giường ngủ đặt ở hướng Bắc, Đông, Nam và Đông Nam sẽ tốt.

Những người thuộc mệnh Kim, Thổ thuộc “mệnh Tây tứ”, giường ngủ nên đặt ở hướng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và Tây.

Màu sắc trong phòng ngủ, tạo nên sự cân bằng năng lượng âm và dương để đạt đến sự hài hòa. Âm là sắc tối yên tĩnh hấp thu màu, dương là sắc sáng chuyển động phản ánh màu. Vì thế màu sắc được vận dụng để tăng cường những yếu tố thuận lợi và hạn chế những điều bất lợi.

Mỗi mệnh trong ngũ hành đều có màu riêng biệt, mỗi màu sắc lại có tính tương sinh, tương khắc.

– Người mệnh Kim nên sử dụng tông màu sáng, vì màu trắng là màu sở hữu của bản mệnh, ngoài ra kết hợp với màu nâu vàng là những màu sắc sinh vượng. Những màu này luôn đem lại niềm vui và may mắn cho chủ nhà.

– Người mệnh Mộc sử dụng tông màu xanh, kết hợp với màu đen, xanh biển sẫm.

– Người mệnh Thủy sử dụng màu đen có thể chuyển màu ghi, xanh biển sẫm, kết hợp với tông màu trắng và những sắc ánh kim.

– Người mệnh Thổ nên sử dụng tông màu vàng đất, màu nâu, kết hợp với màu hồng, đỏ, tím.

– Người mệnh Hỏa nên sử dụng màu đỏ, hồng, tím, kết hợp với các màu xanh.

Không được đặt giường ngủ thẳng với lối đi và cửa vào. Đầu giường cần tựa vào tường hoặc vách ngăn, tạo cảm giác vững chắc, không chênh vênh! Đầu giường không được đặt trực tiếp dưới cửa sổ. Không đặt giường dưới dầm nhà.

Mục đích cuối cùng là tạo một giấc ngủ sâu, điều mà y học yêu cầu cao đối với việc đảm bảo sức khỏe cho con người.

IV- NHÀ VỆ SINH – NHÀ TẮM

Trong kiến trúc truyền thống, khu vệ sinh phải riêng biệt xa nhà ở. Nhà tắm thường ở cạnh giếng nước. Bây giờ đất chật, nhà tắm và vệ sinh thường làm chung một phòng. Do sự tiến bộ của khoa học, có nhiều biện pháp để đảm bảo vệ sinh có thể là “trên mức tuyệt vời”. Việc bố trí nhà vệ sinh cạnh phòng ngủ, ngay trong ngôi nhà ở, không có gì lạ nữa. Nhưng dù sao nó vẫn là nhà vệ sinh.

Nguyên tắc bố trí nhà vệ sinh của Phong Thủy là “tọa hung hướng cát”, do đó nên đặt vào các hướng xấu, các hướng bất lợi về khí hậu và phối hợp được ngũ hành, âm dương. Việc xem xét hướng đặt phòng vệ sinh cũng cần chú ý đến hướng mệnh trạch của chủ nhà, dân gian gọi là cách “dĩ độc trị độc” để hung gặp hung hoá cát.

– Người làm nhà theo Tây tứ trạch, mệnh cung là Càn, Đoài, Cấn, Khôn đặt nhà vệ sinh tại các hướng Đông, Đông Nam, Nam và Bắc

– Người làm nhà theo Đông tứ trạch, mệnh cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn đặt nhà vệ sinh tại các hướng Tây, Tây nam, Tây bắc và Đông bắc.

Khu vệ sinh nhà tắm cần thông thoáng, thoát khí và thoát nước tốt.

CHƯƠNG III – CHỌN TUỔI LÀM NHÀ

Làm nhà là một việc đại sự trong đời người. Nhất là khi ta đã xây tổ ấm, cần có một cuộc sống tự lập, được tự do trong ngôi nhà của riêng mình. Xem thế đủ thấy, hầu như ai cũng phải lo chuyện làm nhà.

Cái nhà, xét về phương diện giá trị sử dụng, nó là chỗ ở, cho ta ấm áp về mùa đông, mát mẻ khi hè về; để hai trái tim vàng của Hạnh phúc lứa đôi thêm nồng nàn, đơm hoa kết trái với những thiên thần nhỏ, mang lại niềm vui bất tận trong tổ ấm gia đình.

Cái nhà còn là nơi ta trú ngụ, để tránh những phong ba của thiên nhiên và bão tố của cuộc đời luôn rình dập, có thể ập xuống bất cứ lúc nào…Nhưng hơn thế, có được cái nhà rồi; ta sẽ yên tâm “vững bước mà đi” trên con đường sự nghiệp. Chẳng thế mà từ lâu cha ông ta rất coi trọng việc làm nhà, coi cái nhà là một trong những yếu tố có thể mang đến Đại Cát hay Họa Hại cho chủ nhân.

Bởi vậy, khi làm nhà không ai bỏ qua việc chọn tuổi, lấy hướng, xem ngày, chọn giờ…để tiến hành các việc động thổ, dựng nhà, đặt đòn nóc, đổ mái, đặt bàn thờ, về nhà mới… Thực tế, chúng ta cũng thường thấy nhiều người gặp vận xấu, hao tài tốn của, tổn thất con người khi chuyển nhà hoặc xây nhà mới. Nhưng cũng có nhiều người phát danh tài lộc khi đổi nhà hoặc xây nhà mới.

Đây là một việc nhạy cảm, người cho đó là mê tín dị đoan; người lại bảo “có kiêng có lành”. Điều này còn tiếp tục làm hao tâm tổn trí của bao lớp người, qua bao thế hệ; tốn không ít giấy mực, được ghi lại thành văn trong các bách khoa tri thức và vẫn không có hồi kết.

Thực ra cũng chỉ là một phép giải Tâm Lý, giúp người ta thực sự yên tâm khi làm các việc lớn. Một khi tư tưởng thanh thoát, ta sẽ sáng suốt trong tư duy, quyết đoán chính xác trong hành động, ngôn ngữ mạch lạc, thuyết phục trong giao tiếp…thành công trong sự nghiệp là điều có thể đạt được.

Trên góc độ ấy, khi làm nhà ta cẩn trọng trong các việc: chọn tuổi, lấy hướng, xem ngày, chọn giờ không nên bỏ qua!

Chọn tuổi làm nhà phải tránh các năm sau đây:

I. TRÁNH NĂM PHẠM KIM LÂU

Từ xưa vẫn truyền lại câu:

Một (1) Ba (3) Sáu (6) Tám (8) Kim Lâu

Làm nhà, cưới vợ, tậu trâu thì đừng!

Việc tính tuổi Kim Lâu là dựa vào tám quẻ và Cửu cung trong Kinh Dịch rất phức tạp. Sách cổ ghi: “Ngũ thập nhập trung cung. 1, 3, 6, 8 phạm Kim lâu”. Có nhiều cách tính, đều cho kết quả 1.3.6.8 phạm Kim Lâu.

Cách đơn giản dễ làm nhất là:

Lấy tuổi mụ chia cho 9. Số dư còn lại rơi vào các số: 1,3,6,8 đó là các năm phạm Kim Lâu.

(Ghi chú: Tuổi mụ là tuổi dương lịch cộng thêm 1)

Một số ví dụ:

– Người sinh năm 1984, năm 2015 tuổi mụ là 32. Lấy 32 chia cho 9 còn dư 5. Vậy năm 2015 người ấy không phạm Kim Lâu, làm nhà được.

– Người sinh năm 1986, năm 2015 tuổi mụ là 30. Lấy 30 chia cho 9 còn dư 3. Vậy năm 2015 người ấy phạm Kim Lâu, không làm nhà được.

– Người sinh năm 1979, năm 2015 tuổi mụ là 37. Lấy 37 chia cho 9 còn dư 1. Vậy năm 2015 người ấy phạm Kim Lâu, không làm nhà được.

– Người sinh năm 1980, năm 2015 tuổi mụ là 36. Lấy 36 chia cho 9 còn dư 0. Vậy năm 2015 người ấy không phạm Kim Lâu, làm nhà được.

Vẫn có người nhầm các số 1,3,6,8 là các số sau của mỗi số hàng chục như 21, 23, 26, 28, 31,33,36,38 là tuổi Kim Lâu, như vậy là không đúng.

Hạn Kim Lâu, bị cho là rất nguy hiểm, nếu mua hoặc xây nhà sẽ có tai họa hoặc chết chóc cho mọi người trong nhà. Theo cách tính trên nếu:

– Số dư là 1: năm đó phạm Kim lâu thân, làm nhà sẽ có tai họa cho chính gia chủ.

– Số dư là 3: năm đó phạm Kim lâu thê, làm nhà sẽ có tai họa xảy ra cho vợ.

– Số dư là 6: năm phạm Kim lâu tử, làm nhà sẽ có tai họa cho con cái.

– Số dư là 8: năm đó phạm Kim lâu lục súc, chủ tai họa cho chăn nuôi, hay công việc làm ăn thất bại.

Quan niệm trên cho thấy phạm Kim Lâu nào cũng cần phải tránh.

Ngày trước có câu: “Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông”. Liệu có phải bây giờ vẫn như thế không? Xét trên quan điểm Lịch sử để lý giải việc này. Trước cách mạng Tháng Tám, đạo Nho là hệ tư tưởng của xã hội phong kiến. Tư tưởng trọng nam khinh nữ rất nặng nề. Người đàn ông luôn được đặt ở vị trí chủ chốt, đảm trách mọi việc trong gia đình. Làm nhà là một việc lớn, phải chuẩn bị “tam niên tích cốc, ngũ niên tích mộc”! do đó “làm nhà xem tuổi đàn ông” lúc bấy giờ là đương nhiên.

Đạo lý Nho học trọng nam khinh nữ, là một sai lầm của Khổng phu tử. Trong trường kỳ lịch sử hàng ngàn năm, giai cấp phong kiến Trung quốc và các nước châu Á, đã lợi dụng Nho giáo làm nền tảng tư tưởng để thống trị. Hậu quả là: ngoài xã hội thì quân chủ chuyên chế; trong nhà thì gia trưởng. Không có dân chủ, người dân cam chịu kiếp nô lệ. Trong đó người phụ nữ chịu thiệt thòi hơn cả.

Trước khi Khổng phu tử ra đời, thuyết Âm Dương đã xác định, mọi yếu tố trong tự nhiên và xã hội đều có hai mặt đối lập, nhưng luôn cân bằng cùng tồn tại: ngày đêm, sáng tối, to nhỏ, ngắn dài, tốt xấu, nam nữ…Nó phát triển theo quy luật sinh khắc, để tạo nên sự cân bằng trong vũ trụ nhân gian.

Nam (Dương) Nữ (Âm) là hai thực thể cân bằng trong vòng tròn Thái cực. Nam và Nữ cũng đều ứng với một quẻ trong Kinh Dịch. Xét trên góc độ này, đương nhiên vị trí người phụ nữ bình đẳng với nam giới. Như thế quan điểm bình đẳng giới đã có từ trước thời Khổng tử hàng ngàn năm.

Bây giờ nhiều chị em đảm nhiệm trọng trách từ trong nhà đến xã hội. Nhu cầu làm nhà là chung cho cả nam và nữ; nếu chồng phạm Kim Lâu, người vợ không phạm Kim Lâu, vẫn có thể đứng tên làm chủ công trình. Lại không ít chị em sống một mình, nuôi dạy con trưởng thành…(chồng chết hoặc chấp nhận không lấy chồng). Khi họ làm nhà, đương nhiên phải xem tuổi của mình; vì đó là ngôi nhà của chính mình, một phụ nữ sống độc lập.

Như vậy: Làm nhà xem tuổi đàn ông hay đàn bà đều được.(Người đứng chủ công trình)

Còn việc “Lấy vợ xem tuổi đàn bà”? Ngày trước “nam nữ thụ thụ bất thân”, nhà trai phải nhờ bà mối hỏi tuổi người con gái (lễ vấn danh), để nhà trai xem tuổi hai cháu có hợp không, mới quyết định việc hôn nhân.

Bởi thế: Việc lấy vợ hay lấy chồng từ xưa đến nay, vẫn phải xem tuổi của cả trai và gái.

– Trong thuật Phong Thủy còn đề cập đến việc tránh các năm Hoang Ốc, Tam Tai… Nhưng những năm đó là những năm hạn không ảnh hưởng lớn và quyết định việc Họa – Phúc sau khi làm nhà. Bởi vậy Thuật Phong Thủy vẫn nhấn mạnh tránh phạm Kim Lâu là chính trong việc làm nhà. Nếu tuổi chủ nhân không phạm Kim Lâu, chỉ bị Hoang Ốc hoặc Tam Tai đều có thể làm nhà được.

– Trên tinh thần phổ thông những điều cần biết, chúng tôi thấy không cần thiết đi sâu vào việc trình bầy các năm Hoang Ốc và Tam Tai! Tránh cho độc giả phải phân tâm không đáng có.

II. TRÁNH NĂM XUNG TUỔI NGƯỜI LÀM NHÀ

Theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành, trong 12 địa chi có 6 cặp xung khắc là:

Tý xung Ngọ. Mão xung Dậu. Tỵ xung Hợi. Dần xung Thân. Thìn xung Tuất. Sửu xung Mùi.

Xem xét một trường hợp cụ thể sau: Ông Hà sinh năm 1975, tuổi Ất Mão.

Xét xung hàng Chi tuổi Ất Mão.

Theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành, chi Mão xung với chi Dậu. Liệu tuổi Ất Mão của ông Hà có xung với mọi tuổi Dậu không?

Trong một vòng Hoa Giáp 60 năm: có 5 năm Dậu là: Ất Dậu, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Tân Dậu, Quý Dậu.

Đối chiếu Ngũ hành của tuổi Ất Mão với Ngũ hành của 5 tuổi Dậu trên, để xem tuổi Dậu nào xung với tuổi Ất Mão?

phong_thuy_ky_4-1

Như vậy tuổi Ất Mão, xung khắc hàng Chi chỉ có 2 năm là Đinh Dậu và Kỷ Dậu. Đây là hai năm tuổi Ất Mão phải tránh. Ông Hà làm nhà phải tránh hai năm này.

Còn lại 3 năm: Ất Dậu, Tân Dậu, Quý Dậu có tránh không? Thường là người ta cũng hay tránh. Nhưng xét ra vẫn có hai năm có thể làm việc đại sự được. Đó là 2 năm Quý Dậu và Ất Dậu.

Quý Dậu hành Kim, Kim sinh Thủy, trường hợp này Ất Mão hành Thủy có lợi.

Ất Dậu hành Thủy, Ất Mão cũng hành Thủy, hai bên tương hòa không ảnh hưởng nhau.

Liên hệ sang hôn nhân, tuổi Ất Mão vẫn lấy được người tuổi Quý Dậu hoặc Ất Dậu.

Còn năm Tân Dậu tuy là tương sinh, nhưng không làm việc lớn được, vì Ất Mão hành Thủy sinh Mộc của Tân Dậu. Trường hợp này Ất Mão hao tổn. Mặt khác can Ất xung can Tân. Đã hao tổn và xung can cần tránh.

– Xét xung hàng Can tuổi Ất Mão.

Trong 10 thiên can có 4 cặp xung khắc là: Giáp xung Canh, Ất xung Tân, Bính xung Nhâm. Hai can Mậu và Kỷ không xung.

Theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành, can Ất xung với can Tân. Trong một vòng Hoa Giáp 60 năm, có 6 năm can Tân là: Tân Sửu, Tân Mão, Tân Tỵ, Tân Mùi, Tân Dậu, Tân Hợi.

Đối chiếu Ngũ hành của Ất Mão với Ngũ hành của 6 năm can Tân trên, xem Ất Mão xung với những năm nào?

phong_thuy_ky_4-2

Xem trên, ta thấy tuổi Ất Mão bị 2 năm Tân Sửu và Tân Mùi xung mạnh nhất. Hai năm này đều hành Thổ. Thổ khắc Thủy, vì đất luôn chặn dòng chảy của nước. Tuổi Ất Mão của ông Hà phải tránh hai năm này.

Như vậy tuổi Ất Mão, xung khắc hàng Can chỉ có 2 năm là Tân Sửu và Tân Mùi. Đây là hai năm tuổi Ất Mão phải tránh.

Còn lại 4 năm Tân Mão, Tân Tỵ, Tân Dậu, Tân Hợi thì sao?

– Hai năm Tân Tỵ và Tân Hợi, tuổi Ất Mão có thể làm việc lớn được. Vì Kim sinh Thủy, Ất Mão có lợi, không bị hao tổn.

– Còn 2 năm Tân Mão, Tân Dậu tuy là tương sinh; nhưng Ất Mão bị hao tổn. Vì Thủy sinh Mộc. Bởi vậy 2 năm này, tuổi Ất Mão cũng không được khởi sự làm việc lớn.

Tóm lại Ông Hà sinh năm 1975, tuổi Ất Mão; cần tránh 6 năm sau:

Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Tân Sửu, Tân Mùi, Tân Dậu, Tân Mão.

(Xem Bảng tuổi xung khắc vòng hoa giáp 60 năm trong Lịch Vạn niên)

Xem Bảng tuổi xung khắc, ta thấy mỗi một tuổi, chỉ xung với hai tuổi hàng Chi. Còn lại ba tuổi hàng Chi khác không xung.

Hàng Can chỉ xung hai đến ba tuổi. Còn lại ba đến bốn tuổi hàng Can khác không xung. Điều này giúp ta bình tĩnh xem xét và yên tâm, khi mới nhìn có vẻ xung nhau. Nhưng thực ra lại không xung.

II. TRÁNH NĂM TUỔI CỦA NGƯỜI LÀM NHÀ.

Tính từ năm sinh, cứ sau một giáp 12 năm là đến năm tuổi.

Trở lại trường hợp ông Hà sinh năm 1975, tuổi Ất Mão.

Năm tuổi của ông Hà là: Đinh Mão (13 tuổi), Kỷ Mão (25 tuổi), Tân Mão (37 tuổi), Quý Mão (49 tuổi), Ất Mão (61 tuổi), Đinh Mão (73 tuổi), Kỷ Mão (85 tuổi)….

Các tuổi 13, 25, 37, 49, 61, 73, 85…là năm tuổi của tất cả mọi người. Khởi sự làm việc lớn đều phải tránh các năm này.

CHƯƠNG IV: CHỌN THỜI GIAN ĐỘNG THỔ – ĐỔ MÁI- VỀ NHÀ MỚI

Chọn được tuổi, là ta đã chọn được năm để làm nhà. Chỉ còn lại chọn tháng, chọn ngày và chọn giờ khởi công. Chọn ngày, giờ đổ mái và về nhà mới.

I. CHỌN NGÀY KHỞI CÔNG

Ngày khởi công vô cùng quan trọng, bắt đầu công trình của cả đời người. Ngày khởi công cũng là ngày Động thổ.

Để có một ngày khởi công đẹp, phải cẩn trọng các việc sau:

1-) Chọn mùa khởi công.

Thuật phong thủy bàn kỹ về sự liên quan giữa hướng nhà của từng quẻ với 24 tiết khí trong năm, để chọn mùa khởi công. Nhưng xét ra trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông nhân dân ta thường có thói quen làm nhà tránh mùa mưa. Phần lớn bắt đầu làm nhà từ tháng 9 Âm lịch đến cuối năm và kéo dài sang đầu mùa Hạ năm sau. Đây là thời gian khô ráo tiện lợi cho cả chủ và thợ.

2-) Chọn tháng khởi công.

Về nguyên tắc chọn tháng giống như chọn năm. Căn cứ vào Lịch Can Chi để chọn tháng. Có 3 tháng phải tránh là: tháng xung với tuổi chủ nhân, tháng tuổi chủ nhân (cùng Can Chi với tuổi chủ nhân) và tháng 7.

Lịch Can Chi quy định: Tháng Giêng: Dần. Tháng 2: Mão. Tháng 3: Thìn. Tháng 4: Tỵ. Tháng 5: Ngọ. Tháng 6: Mùi. Tháng 7: Thân. Tháng 8: Dậu. Tháng 9: Tuất. Tháng 10: Hợi. Tháng 11: Tý. Tháng 12: Sửu.
Để biết hàng Can của tháng, xem lịch bán hàng năm đều có ghi.

Căn cứ vào xung hợp hàng Chi và hàng Can để chọn lựa. Chủ yếu là hợp hàng Chi.

– Nhị hợp hàng Chi:

Tý hợp Sửu. Dần hợp Hợi. Mão hợp Tuất. Thìn hợp Dậu. Tỵ hợp Thân. Ngọ hợp Mùi.

(Không nên nghĩ rằng cọp bắt lợn! mà nói Dần Hợi xung nhau!)

– Tam hợp hàng Chi:

Thân – Tý – Thìn.

Hợi – Mão – Mùi.

Dần – Ngọ – Tuất.

Tỵ – Dậu – Sửu.

3-) Chọn ngày khởi công. Ngày khởi công cũng là ngày Động Thổ.

Ngày động thổ nên chọn ngày có các sao: Sinh khí, Thiên ân, Thiên đức, Nguyệt đức, Hoàng đạo, Thiên hỷ, Tam hợp, Địa tài.

Nên tránh các ngày có sao: Thổ cấm, Thổ kị, Ly sào, Nguyệt kiến, Nguyệt phá, Sát chủ, Hoang ốc, Hắc đạo,Trực phá, Trực trừ.

Căn cứ vào các sao chiếu trong ngày của từng tháng đã được tính sẵn để chọn ngày khởi công – động thổ.

Xem bảng ngày tốt, xấu của từng tháng sau đây.

4-) Chọn giờ tốt.

Sau khi chọn được ngày tốt, tiếp theo là chọn giờ tốt. Lịch Can Chi quy định một ngày có 12 giờ. (1 giờ âm bằng 2 giờ dương lịch) Được đặt tên theo 12 địa chi. Chính Tý là 12 giờ đêm. Chính Ngọ là 12 giờ trưa.

Một ngày đêm có12 giờ Âm lịch. Được quy định như sau:

gio_tot_1

Sau đây là bảng xem giờ tốt các ngày trong một vòng Hoa giáp:

GIỜ TỐT CÁC NGÀY GIÁP, ẤT

gio_tot_cac_ngay_at_giap

GIỜ TỐT CÁC NGÀY BÍNH, ĐINH

gio_tot_cac_ngay_binh_dinh

GIỜ TỐT CÁC NGÀY MẬU, KỶ

gio_tot_cac_ngay_mau_ky

GIỜ TỐT CÁC NGÀY CANH, TÂN

gio_tot_cac_ngay_canh_tan

GIỜ TỐTCÁC NGÀY NHÂM, QUÝ

gio_tot_cac_ngay_nham_quy

Một ngày có 6 giờ tốt (Giờ Hoàng đạo) và sáu giờ xấu (Giờ Hắc đạo).Trong 6 giờ Tốt lại chỉ có từ 1 đến 3 giờ Tốt nhất được ghi đậm đỏ trong Bảng. Tùy công việc mà chọn.

Ví dụ: Ngày Nhâm thìn, có 3 giờ tốt nhất là Tỵ, Dậu, Hợi và 3 giờ tốt vừa là Dần, Thìn, Thân. Để thuận lợi công việc, chọn giờ Thìn (Từ 7 h đến 9 h) bắt đầu công việc. Tiếp đến giờ Tỵ (Từ 9 h đến 11 h) là giờ tốt nhất. Công việc được trọn vẹn trong buổi sáng. Như vậy thuận lợi cho chủ sự rất nhiều.

Việc chọn năm, tháng, ngày, giờ tốt khi làm nhà, ta có thể tự chọn và quyết định. Trên cơ sở nắm được những nội dung trên.

5-)Tiến hành Lễ Động Thổ.

Do quan niệm: Trên trời có Ngọc Hoàng Thượng đế, dưới sông biển có Hà Bá Long Vương. Đất đai thì có Thổ thần quản lý, do đó muốn xây dựng bất cứ công trình nào, cũng phải xin phép và được sự đồng ý của Thổ thần.
Trước khi động thổ, bổ nhát cuốc đầu tiên phải tiến hành Lễ cúng Thổ thần tại mảnh đất xây dựng.

Sắm lễ: Trong lễ động thổ ngày xưa phải cúng tam sinh (là 3 con vật hy sinh là bò, heo, dê hoặc trâu, heo, dê để tế thần), ngày nay đơn giản hơn, nhưng phải có một con gà trống luộc (cả tiết, lòng mề tim gan, xếp trong bụng gà), đĩa xôi, hương, hoa, quả, vàng mã, trầu rượu, nước lã, nến… Một số vùng lại cúng bằng Trứng vịt luộc, Tôm luộc, Thịt lợn luộc cũng gọi là tam sinh.

Trước khi đọc bài khấn, thắp đèn nhang, vái bốn phương tám hướng, rồi quay mặt vào mâm lễ mà khấn.

Bài khấn như sau:

VĂN KHẤN LỄ ĐỘNG THỔ

– Kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ cùng chư vị Tôn thần.

– Kính lạy Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương.

– Kính lạy Ngũ phương Ngũ thổ Long mạch tôn Thần, các ngài tôn thần cai quản trong khu vực này.

– Kính lạy các chư vị cát tinh: Thiên Đức, Thiên Đức Hợp, Nguyệt Đức, Nguyệt Đức Hợp, Tuế Đức, Tuế Đức Hợp, Thái Dương, Thái Âm, Tử Vi Đế Tinh.

– Hôm nay ngày………tháng……….năm………….âm lịch.

Tức là ngày………..tháng………. năm dương lịch.

Tại mảnh đất……….. thuộc………..(nêu địa điểm nơi động thổ)

– Tín chủ là: ………………………………………………………………

Ngụ tại: ………………………………………………………………………

Tín chủ thành tâm sắm lễ, cau trầu, vàng nến, hương hoa, quả phẩm, thắp nén tâm hương, dâng lên trước án, xin kính cáo:

Hôm nay tín chủ khởi tạo ngôi nhà, để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu.

Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép Tín chủ được động thổ.

Tín chủ lòng thành kính dâng lễ vật lên trước án gồm có: xôi gà, hương hoa, quả phẩm, vàng mã, trầu rượu nước, đèn nến…thành tâm kính mời:

– Ngài Kim Niên Đường cai Thái Tuế chí đức tôn thần,

– Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương,

– Ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa,

– Ngài Định phúc Táo quân,

– Cùng các ngài Địa chúa Long Mạch tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng tôi được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, chủ – thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ xin phổ cáo với các vị Tiền chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên, khiến cho mọi bề an lạc, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Tín chủ lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin các ngài phù hộ độ trì, được bình an khang thái.

Cẩn cáo!

Sau khi làm lễ, gia chủ là người cầm cuốc bổ những nhát cuốc đầu tiên, ở nơi hướng tốt, tiếp sau đó mới cho thợ đào móng, hoặc ép cọc…

II. CHỌN NGÀY GIỜ ĐỔ MÁI

Ngày trước phần lớn chưa có nhà mái bằng, việc dựng nhà, đặt đòn nóc cũng phải xem ngày giờ chu đáo. Bây giờ đổ mái bằng được coi như ngày giờ đặt đòn nóc.

Bên cạnh việc chọn ngày đẹp, giờ đẹp để tiến hành làm nhà, xây cất nhà, cũng phải chọn ngày giờ đổ mái. Chọn ngày có các sao tốt tương tự như ngày động thổ nhưng kị các sao: Thiên hỏa, Hỏa tai, Nguyệt phá, Trực phá.
Nhà có nhiều tầng, mỗi lần đổ mái một tầng, đều phải chọn ngày giờ và cúng Lễ chu đáo.

Sắm Lễ như Lễ Động thổ

Trước khi đọc bài khấn, thắp đèn nhang, vái bốn phương tám hướng, rồi quay mặt vào mâm lễ mà khấn.

VĂN KHẤN LỄ ĐỔ MÁI

Kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Kính lạy các vị quan đương niên.

Kính lạy các Tôn thần bản xứ

Tín chủ là ………………………………………….

Ngụ tại ……………………………………………….

Hôm nay là ngày……..tháng……….năm………..âm lịch,

Tức là ngày……tháng…………năm……… Dương lịch

Tín chủ thành tâm sắm lễ: vàng nến, hương hoa, trầu rượu, quả phẩm các loại…xin được thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính cáo rằng:

Hôm nay tín chủ đổ mái tầng………… ngôi nhà để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu. Nay chọn được giờ hoàng đạo, ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét và cho phép được đổ mái tầng………ngôi nhà mới vào giờ……….(Tý hay Dần…)

Tín chủ lòng thành lễ vật dâng lên trước án, thành tâm kính mời:

– Ngài Kim Niên Đường cai thái tuế chí đức Tôn thần,

– Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương,

– Ngài bản xứ Thần linh Thổ địa,

– Ngài Định phúc Táo quân,

– Các ngài Địa chúa long mạch tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng tôi được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông: Chủ thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ cũng xin phổ cáo với các vị Tiền chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lạc, công việc chóng thành, vạn sự như ý.

Tín chủ lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì bình an khang thái.

Cẩn cáo!

Sau khi làm Lễ, chủ nhà đổ một xô vữa vào hướng tốt của nhà. Rồi đến việc của thợ.

III. CHỌN NGÀY GIỜ VỀ NHÀ MỚI

Ngày về nhà mới còn gọi là Nhập Trạch, là ngày dọn đến ngôi nhà mới. Có thể là nhà mới xây hoặc mới mua.

Trong Phong thủy, ta thường gặp rất nhiều từ “trạch”. Như Âm trạch, Dương trạch, Đông tứ trạch, Tây tứ trạch, Nhập trạch… “Trạch” là từ Hán宅, nghĩa của nó là: Nhà ở. Trạch còn chỉ mồ mả. Dương trạch là đất làm nhà, Âm trạch là đất để phần mộ.

Chọn ngày giờ nhập trạch là ngày có các sao tốt: Thiên ân, Thiên hỷ, Thiên giải, Nguyệt tài, Thiên phú, Sinh khí… Các sao tốt được chọn giống với ngày Động thổ, tránh các sao Chu tước, Thụ tử, Sát chủ và các ngày Hắc đạo.
Khi về nhà mới cần chú ý: Bài vị cúng Gia Thần, Gia Tiên phải do gia chủ tự tay cầm đến nhà mới, rồi mọi người mang các thứ vào; đầu tiên là bếp nấu. (Bếp còn đang cháy đỏ từ nhà cũ đem tới thì càng tốt), rồi đến giường chiếu, chăn đệm, tủ, bàn ghế…Kiêng phụ nữ có thai tham gia chuyển đồ đạc.

Thường có hai ban thờ chính là Gia tiên và Thổ công, đặt ở vị trí tốt theo hướng đẹp của nhà. Nếu vợ chồng trẻ mới ở riêng, chỉ cần một ban thờ Thổ công. Vì Gia tiên do bố mẹ hoặc anh cả thờ.
Thời gian chuyển nhà tốt nhất là vào buổi sáng, giữa trưa; không được chuyển vào buổi tối (Xem bảng giờ tốt trong ngày).

Sau khi ổn định những việc cơ bản chính, gia chủ tiến hành làm Lễ cáo Thần linh, Thổ công và cáo Gia tiên.

Sắm ba lễ ở ba nơi, cũng đầy đủ; tùy điều kiện mà biện lễ nhiều ít, miễn là tâm thành.

Kê bàn cúng Thần linh ở hướng đẹp, thường là cửa chính. Nơi vượng khí tụ về khu Huyền quan.

Thứ tự làm lễ: Cáo Thần linh trước, rồi đến Thổ công và cuối cùng là cáo Gia tiên.

Thắp nhang và khấn lễ Thần linh xin nhập vào nhà mới, tiếp ngay sau đó gia chủ nhóm bếp và đun nước.

Đun nước mục đích là để khai bếp, pha trà dâng Thần linh và Gia tiên. Nếu có khách, có thể lấy nước đó mời khách.

Nếu chỉ nhập trạch lấy ngày tốt, chưa có nhu cầu ở ngay, thì chủ nhà phải ngủ một đêm ở nhà mới.

VĂN KHẤN THẦN LINH

– Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Kính lạy Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

Tín chủ là:…………………………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày………. tháng…………. năm…………(âm lịch)

Tức là ngày………..tháng………….năm………(dương lịch)

Tín chủ thành tâm sắm lễ: xôi gà, cau trầu, hương hoa, vàng mã, quả phẩm, thắp nén tâm nhang dâng lên trước án. Trước bản toạ chư vị Tôn thần, tín chủ kính cẩn tâu trình:

Các vị Thần linh,

Thông minh chính trực,

Giữ ngôi tam thai

Nắm quyền tạo hoá

Thể đức hiếu sinh

Phù hộ dân lành

Bảo vệ sinh linh.

Nêu cao chính đạo.

Nay tín chủ hoàn tất nhà mới, chọn được ngày lành, giờ đẹp, toàn gia tín chủ dọn đến cư ngụ, đốt củi nhóm lửa, kính lễ khánh hạ.

Cầu xin chư vị minh Thần tối linh, cho gia đình tín chủ được nhập vào nhà mới tại:………………………………. và lập bát nhang thờ chư vị Tôn thần.

Tín chủ xin phép chư vị Tôn thần, cho rước vong linh Gia tiên tín chủ về ở nơi này để thờ phụng.

Tín chủ cầu xin chư vị minh Thần gia ân tác phúc, phù hộ độ trì cho gia quyến tín chủ luôn được an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, mọi điều tốt lành.

Tín chủ xin mời vong linh Tiền chủ đã từng ở đây, xin cùng về chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho gia quyến tín chủ sức khoẻ dồi dào, an khang, thịnh vượng.

Tín chủ lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì cho toàn gia ở ngôi nhà mới; luôn được bình an khang thái, mọi việc hanh thông.

Cẩn cáo!

Sau khi cúng Thần linh, rồi đến cúng Thổ công, cuối cùng là cúng Gia tiên.

VĂN KHẤN THỔ CÔNG

– Kính lạy các ngài Đông trù Tư mệnh Định Phúc Táo phủ thần quân.

– Hôm nay ngày………….tháng………….năm…………….(âm lịch)

Tức là ngày……………tháng…………năm…………………(dương lịch)

– Tín chủ là………………………….. Trước ở :…………………………….

– Hiện nay chuyển đến nhà mới ở :……………………….…

Cùng toàn gia kính bái.

Trước Linh tọa các vị Đông trù Tư mệnh Táo Phủ Thần quân. Kính cẩn thưa rằng:

Nhờ các vị Thần linh gia phúc gia ân, lại được hưởng hồng ân các vị liệt tổ liệt tông ban lộc. Nhằm năm mưa thuận gió hòa, Thiên Địa Nhân hợp nhất, nên Tín chủ đã hoàn thành được ngôi nhà mới đạt sở nguyện.
Hôm nay là ngày lành tháng tốt, lại được giờ Hoàng đạo; với tấm lòng thành, tín chủ sửa lễ kính dâng: cau trầu, hương hoa, vàng mã, quả phẩm, thắp nén tâm nhang, dâng lên trước án. Trước bản toạ chư vị Đông trù Tư mệnh Táo Phủ Thần quân, tín chủ kính mời các vị hưởng lễ và tâu trình:

Tín chủ xin phép chư vị cho rước vong linh Gia tiên chúng tôi về nơi ở mới này để thờ phụng.
Tín chủ cầu xin chư vị Đông trù Tư mệnh Táo Phủ Thần quân gia ân tác phúc, phù hộ độ trì ch

gia quyến chúng tôi luôn được an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào vạn sự như ý, mọi điều tốt lành trong ngôi nhà mới.

Cẩn cáo!

VĂN KHẤN GIA TIÊN

– Kính cáo trước linh vị các ngài tiền nhân họ……..(Họ của chủ nhà)

Hôm nay ngày…………..tháng………….năm………… (âm lịch)

Tức là ngày ……….tháng…….. năm…….. (dương lịch)

Hậu thế ….(Nguyễn Văn A) là…………….cháu đích tôn họ Nguyễn (nêu vị trí chủ lễ) Gia đình chúng con dọn đến đây là…………………………………………………(ghi địa chỉ)

Hôm nay chúng con thiết lập hương án, thờ phụng Gia tiên. Với tấm lòng thành sắm sanh lễ vật: hương hoa, quả phẩm, trầu rượu, vàng mã…Thắp nén tâm nhang trước linh vị Tổ tiên xin thưa rằng:

Kính trình các Cụ tổ Tiên nội ngoại hai bên: Nhờ hồng phúc Tổ Tiên ban lộc, nhờ Âm Đức cha mẹ ra ân; chúng con đã xây dựng được ngôi nhà mới. Nay hoàn tất công trình, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt để chuyển về nhà mới.

Kính rước chư vị Hương linh Tiên Tổ về đây, để chúng con sớm hôm hương khói tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin, Ông Bà Tổ tiên nội ngoại hai bên, thương con yêu cháu; chứng giám lòng thành, giáng lâm linh án, thụ hưởng lễ vật. Phù hộ độ trì cho chúng con phúc lộc song toàn, gia đạo vượng hưng, xuất nhập bình an, lộc tài thịnh phát, bình an khang thái
Cúi mong Anh linh Tiên Tổ chứng giám, thọ cảm ân sâu.

Cẩn cáo.

Một số nhà mời thầy cúng làm các lễ trên. Thầy cúng là người trung gian chuyển tải các thông điệp của chủ nhà tới các vị Thần linh. Tại sao chủ nhà lại không tự mình làm việc này? Bởi vậy, chủ nhà nên tự làm mọi việc trên đây là tốt nhất.

CHƯƠNG V: ĐÔI ĐIỀU BÀN THÊM

I. CHUẨN BỊ TỐT LÀ THẮNG LỢI MỘT NỬA.

Làm nhà là một việc lớn của đời người. Căn nhà không đơn giản chỉ là nơi ở. Căn nhà còn là nơi làm ăn, ương mầm những thế hệ tiếp nối cho mai sau. Căn nhà phải đạt đầy đủ các yếu tố: tiện dụng, thẩm mỹ, kinh tế và bền vững.

Muốn đạt được những tiêu chí trên, phải có sự chuẩn bị chu đáo về mọi măt.

Trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính, đủ tiềm lực ứng phó với sự trượt giá và chi phí phát sinh. Cần chuẩn bị chu đáo các việc sau:

– Tìm đất hoặc nhà phù hợp với mệnh cung của chủ nhà. Tức là xem hướng đất hoặc nhà có phù hợp với tuổi không?

Khu đất phải nằm ở vị trí đẹp, bằng phẳng. Nếu được tả thanh long, hữu bạch hổ, lưng “tựa sơn“, mặt “hướng thuỷ” là nhất cách.

Đất nở phía sau thì càng tốt. Phía trước không có vật chắn, hay con đường chạy thẳng vào hướng chính. Trường hợp đất chưa đẹp hướng mệnh trạch, nhưng lại phù hợp với yêu cầu làm ăn, tiện đường đi lại, cơ sở hạ tầng và dịch vụ tốt; không nên bỏ lỡ cơ hội. Chỉ cần có biện pháp hóa giải, đảm bảo vận khí tốt là được.

– Nên ở trong khu vực có cơ sở hạ tầng tốt: điện nước, giao thông, dịch vụ, thương mại, trường học, bệnh viện…thuận lợi. Được mọi yêu cầu càng tốt, nếu không, phải có những yêu cầu cơ bản.

– Tìm hiểu nền địa chất, để có phương án xử lý nền móng thích hợp. Đảm bảo tính bền vững cho công trình.

– Chuẩn bị chu đáo các thủ tục pháp lý: Hồ sơ thiết kế, Giấy phép xây dựng.

– Nếu không tự làm được, cần chọn nhà tư vấn thiết kế. Đảm bảo công năng sử dụng cao, hợp lý, tránh lãng phí diện tích xây dựng.

– Tính toán luồng vượng khí qua Huyền quan, lưu thông toàn bộ khu nhà; một yếu tố vô cùng quan trọng, tạo sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Góp phần quan trọng vào sự “ăn nên làm ra” của chủ nhà. Ở đô thị hiện nay, làm nhà ống là chủ yếu, cần có không gian cho sân trời để lấy ánh sáng và vượng khí.

– Đảm bảo tính thẩm mỹ, từ phối cảnh chung đến phân chia các phòng, vị trí cửa…màu sơn…hài hòa; lại mang tính dân tộc và đặc trưng khu vực. Cần tránh sự mô phỏng, bắt trước kiểu dáng nước ngoài một cách máy móc, gây phản cảm cho mọi người và bản thân chủ nhà, sau khi xây dựng mới phát hiện ra.

– Chọn nhà thầu xây dựng có tư cách pháp nhân, có đội ngũ kỹ thuật chất lượng; thực hiện đúng yêu cầu thiết kế.

– Lường trước những khả năng phát sinh, giải quyết ứng phó kịp thời; tránh kéo dài tiến độ công trình.

II. GIỮ GÌN SỨC KHỎE TỐT TRONG QUÁ TRÌNH LÀM NHÀ.

Luôn nhớ câu: “sức khỏe là của mình”. Một số người làm nhà thường xẩy ra tai nạn hoặc ốm đau. Lúc ấy người trong cuộc thì băn khoăn áy náy, liệu có phạm điều gì?…Bên ngoài thì xầm xì bàn tán…rút cuộc thông tin nhiễu loạn méo mó, là điều không nên có! Để lại một dấu ấn không đẹp suốt cả đời người!

Đã làm nhà, ai cũng lo lắng hao tâm tổn trí; kể cả người tiềm lực tài chính siêu mạnh. Huống chi những người phải gắng sức vượt khả năng, lại càng lo lắng hơn…

Điều quan trọng là biết làm chủ. Nên có người quản lý giám sát công trình, giúp chủ nhà mọi việc trong quá trình thi công.

Nghiêm ngặt quy trình an toàn lao động. Không được chủ quan đơn giản. Bởi lẽ, khi sự việc xẩy ra rồi, có ân hận cũng không giải quyết được nữa.

Đảm bảo chế độ sinh hoạt ăn ngủ nghỉ hợp lý, tinh thần sảng khoái tỉnh táo trong mọi lúc. Không nên cố gắng quá sức mình, dễ xẩy ra tai nạn.
III. HÓA GIẢI NHỮNG TÌNH HUỐNG BẤT KHẢ KHÁNG.

Trong quá trình làm nhà, ta thường gặp những tình huống ngoài ý muốn, nhưng vì nhiều yêu cầu chi phối; buộc ta phải chấp nhận. Phong Thủy cũng cho ta thực hiện điều này và đã có những biện pháp hóa giải:

1- Trường hợp không được tuổi làm nhà.

Người không được tuổi làm nhà, nhưng vì yêu cầu bức xúc: Không có chỗ ở, không làm hoặc không mua thì mất thời cơ…Tình huống này có thể tiến hành mượn tuổi của những người được tuổi trong năm, để nhờ xây dựng hoặc mua nhà.
Nên chọn những người đứng tuổi, phúc lộc dồi dào, con cháu đông là tốt nhất. Tuy nhiên cần nhớ rằng, việc mượn tuổi để xây nhà là một biện pháp thiên nhiều về tâm lý.

Thủ tục mượn tuổi:

+ Trước khi làm nhà, chủ nhà làm giấy tờ bán đất, bán nhà tượng trưng (giá tượng trưng) cho người mượn tuổi.

+ Khi Động thổ, người mượn tuổi thay chủ nhà tiến hành khấn vái và động thổ.

(Trong thời gian làm lễ, chủ nhà tạm tránh xa khỏi khu vực hành lễ.)

+ Đổ mái các tầng, người mượn tuổi vẫn tiến hành thay chủ nhà làm lễ.

+ Khi về nhà mới, người mượn tuổi làm nốt các thủ tục cúng lễ dâng hương, rồi bàn giao thủ tục cho chủ nhà mượn ở.

+ Khi chủ nhà được tuổi, làm giấy tờ mua lại nhà (tượng trưng với giá cao hơn giá bán nhà ở trên) và khấn cầu lễ nhập trạch.

2 – Hai căn nhà có cửa chính xung đối nhau:

Theo Phong Thuỷ, nếu hai nhà có cửa chính xung đối sẽ làm cho khí nhà này xung thẳng vào cửa nhà kia hoặc ngược lại, nên chắc chắn sẽ có một nhà bị xấu. Để hóa giải điều này, có thể bàn với nhà hàng xóm, một trong hai nhà lệch cửa hoặc bàn với hàng xóm cùng treo bốn chữ “Thiên quan đại phúc thien_quan_dai_phuc” trên cửa.

Có thể dùng gương Bát Quái hoặc chuông gió treo ở cửa. Gương trong Phong Thuỷ có tác dụng phản xạ lại luồng khí bay tới, nhưng việc sử dụng gương phải hết sức cẩn thận, không được sử dụng bừa bãi vì gương có thể phản xạ cả khí tốt…
Ngoài ra để hoá giải hung khí có thể dùng đôi con nghê, để trấn ở cửa hoặc dùng các loại cầu thuỷ tinh treo để hoá giải.

3- Có đường đâm thẳng vào nhà :

Nếu có con đường đâm thẳng vào nhà, hung khí sẽ dội thẳng vào nhà. Ở nhà này không yên ổn dễ sinh thị phi bệnh tật, hao tổn tài lộc. Để khắc phục có thể dùng gương Bát Quái hoặc xây tường cao để chắn. Ngoài ra để hoá giải hung khí có thể dùng đôi con nghê.

4- Có dốc cao hướng thẳng vào nhà :

Nếu có dốc cao hướng thẳng vào nhà, khí sẽ xung thẳng vào nhà hoặc khí đổ thẳng ra đường. Khí vận chuyển trong ngôi nhà cũng như mạch máu trong cơ thể, phải thu nạp sinh khí và xuất đi uế khí. Khí vận chuyển phải quanh co uốn lượn không được xộc thẳng vào hoặc xộc thẳng ra ngoài. Trường hợp này cần xây nhiều bậc lên xuống để giảm xung khí và treo rèm ở cửa ra vào. Dùng thêm chó đá, đôi con nghê, chế ở vị trí dốc cao đâm vào nhà.

5 – Nhà có cửa chính thông với cửa sau:

Nếu cửa chính thông với cửa hậu và cửa giữa (nếu có) tạo thành thế ba cửa thông nhau. Khí vào sẽ bị thất tán hết, chủ nhà tiền tài không vượng, hao tổn không cầm giữ được tài lộc. Trường hợp này cần sửa lại cửa hoặc đặt bình phong chắn ở giữa, để cửa chính và cửa phụ không nhìn thấy nhau nữa. Dùng cầu thuỷ tinh treo ở vị trí thông giữa hai cửa, dùng tượng rùa đầu rồng hoặc tượng Tam Đa che chắn ở phía cửa phụ.

6 -Trước nhà có một cây to hoặc cây khô:

Phong Thuỷ tối kỵ có cây khô trước nhà, hoặc trước nhà có một cây to, gọi là độc mộc, chủ buồn khổ cô độc. Vì vậy cần chặt hết những cây khô trước nhà và không trồng duy nhất một cây to. Nếu có cây to và chưa chặt được thì dùng một đèn sáng trước cửa hoặc tranh thuộc Hoả nhiều màu đỏ treo trước cửa.

7 – Nhà ở đối diện đường vòng hoặc giao lộ :

Nếu ở đối diện đường vòng hoặc đối diện giao lộ, khí xung sát sẽ chiếu thẳng vào nhà. Sát khí làm hao tổn nhân đinh, gây thị phi bất hoà, ly tán gia đình, sát vợ hại con. Trường hợp trên chỉ dùng làm cơ sở kinh doanh không nên ở. Trước nhà nên dùng gương Bát Quái hoặc xây rào chắn. Có thể dùng chó, nghê, ruà đầu rồng, để trấn áp, hoá giải luồng hung khí.

8 – Thiên Trảm Sát:

Phong Thuỷ tối kỵ trước nhà mình có một khe hở giữa hai nhà cao tầng chiếu thẳng vào cửa nhà hoặc nhà bị kẹp giữa 2 nhà cao tầng gọi là “Thiên Trảm Sát” rất xấu cho ngôi nhà. Vì thế cần dùng một chuông gió treo trước nhà để hoá giải hung khí hoặc dùng một bể cá, một bình nước đặt ở trước nhà hoặc ở cửa sổ, để tiết chế hung khí do Thiên Trảm Sát gây ra. Dùng các vật khí chế hoá bằng pha lê cũng phát huy tác dụng rất tốt. Cũng có thể đặt gương lên trên nóc nhà để tạo dòng đối lưu khí.

9 – Phòng khách bị lộ :

Nếu nhà gần đường, người đi ngoài có thể nhìn thấy rõ phòng khách và những người ngồi trong nhà, rất bất lợi cho gia chủ. Gây nên chuyện thị phi, bất hoà, hao tán tài lộc. Xây tường bao hoặc cổng, cửa; nếu không thể xây thì dùng rèm che khuất để người ngoài không thể nhìn vào nhà. Dùng các vật khí trấn áp như rùa đầu rồng, nghê, trong phòng khách hướng ra cửa.

IV. DÙNG THƯỚC LỖ BAN.

1-) Tại sao gọi là thước Lỗ Ban.

Trong xây dựng người ta thường dùng thước Lỗ Ban. Nhất là khi chọn kích thước cho cửa nhà, cửa cổng, giường, tủ, bàn thờ, bàn làm việc…

Lỗ Ban được xem là ông tổ của nghề mộc và nghề xây dựng. Ông tên gọi là Ban, họ Công Thâu, người nước Lỗ đời Xuân Thu, trước công nguyên (hiện tại thuộc tỉnh Sơn Đông). Vì ông là người nước Lỗ, nên gọi ông là Lỗ Ban.

Ông là một người thợ nổi tiếng thời cổ đại, cũng là một nhà phát minh xuất sắc. Ông chế ra thước, dùng đo đạc trong nghề mộc và xây dựng. Thước trở thành chuẩn mực để làm việc. Mấy ngàn năm nay, thợ mộc và thợ xây dựng Trung Quốc đều tôn thờ ông như một vị tổ sư. Việt nam cũng chịu ảnh hưởng trong việc sử dụng thước.

Thước Lỗ Ban là một đơn vị đo chiều dài. Điều khác biệt, nó là cây thước kinh nghiệm, được đúc kết và đã thử nghiệm cả ngàn đời nay, chỉ để phân định hai chữ tốt xấu. Dĩ nhiên, chỉ bằng một cây thước làm sao thay đổi được vận mạng? Nhưng có lẽ chính qua sự sử dụng, mà nghiệm được rằng: khi tai hoạ xẩy ra cũng nhẹ đi một chút, phúc lộc vào nhà cũng may mắn hơn lên.

Việc này đúng sai xin các vị kiểm chứng, thực ra cũng là một phép giải tâm lý, xét ra không ảnh hưởng điều gì. Nhưng trở thành thói quen, chọn cung tốt trên thước Lỗ Ban để cầu phúc.

Có nhiều dị bản thước Lỗ Ban. Hiện nay trên thị trường bán thước dây loại 3m và 5m, đều do Trung quốc sản xuất. Chúng tôi trình bày hai loại thước đang bán trên thị trường hiện nay.

Cách bố trí của thước này là:

– Mép trên: đo độ dài của nước Anh, đơn vị là inches (1 inches = 2,5 cm).

– Hai hàng giữa là 2 thước Lỗ Ban:

* Loại thước Lỗ Ban 42,9 cm. Dùng cho dương trạch.

* Loại thước Lỗ Ban 39 cm. Dùng cho âm trạch.

– Mép dưới: đo độ dài chuẩn quốc tế, đơn vị là cm.

phong_thuy_ky_cuoi1

2-) Cấu tạo thước Lỗ Ban.

Thước Lỗ Ban có hai loại, dùng khác nhau.

♣ – Thước Lỗ Ban loại dài 42,9 cm. (Dùng cho dương trạch trong xây dựng nhà cửa)

Thước này chia làm 8 phần bằng nhau (còn gọi là cung). Mỗi phần dài 5,3625 cm.

Trong 8 cung đó, có 4 cung tốt (màu đỏ) và 4 cung xấu (màu đen), đi từ trái sang phải, sắp xếp theo thứ tự sau:

Tài Bệnh Ly Nghĩa Quan Kiếp (hoặc Nạn) – Hại Bản (hoặc Mệnh)

Trong mỗi cung, lại chia thành 4 cung nhỏ với nội dung tốt xấu cụ thể.

*a) Cung thứ nhất (tốt) – Tài: Tiền của. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Tài Đức: Có tiền của và có đức.

– Bảo Khố: Kho báu.

– Lục Hợp: Sáu cõi đều tốt (Đông-Tây-Nam-Bắc và Trời-Đất).

– Nghinh Phúc: Đón nhận phúc đến.

*b) Cung thứ 2 Bệnh (xấu): Bệnh tật. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Thoái Tài: Hao tốn tiền của, làm ăn thua lỗ.

– Công Sự: Tranh chấp, thưa kiện ra chính quyền.

– Lao Chấp: Bị tù.

– Cô Quả: Chịu phận cô đơn.

*c) Cung thứ 3 (xấu) – Ly: Chia lìa. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Trường Khố: Dây dưa nhiều chuyện.

– Kiếp Tài: Bị cướp của.

– Quan Quỉ: Chuyện xấu với chính quyền.

– Thất Thoát: Mất mát.

*d) Cung thứ 4 (tốt) – Nghĩa: Chính nghĩa, tình nghĩa. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Thiêm Đinh: Thêm con trai.

– Ích Lợi: Có lợi ích.

– Quí Tử: Con giỏi, ngoan.

– Đại Cát: Rất tốt.

*đ) Cung thứ 5 (tốt) – Quan: Quan chức. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Thuận Khoa: Thi cử thuận lợi.

– Hoạnh Tài: Tiền của bất ngờ.

– Tiến Ích: Làm ăn phát đạt.

– Phú Quý: Giàu có.

*e) Cung thứ 6 (xấu) – Kiếp: Tai hoạ. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Tử Biệt: Chia lìa chết chóc.

– Thoái Khẩu: Mất người.

– Ly Hương: Xa cách quê nhà.

– Tài Thất: Mất tiền của.

*g) Cung thứ 7 (xấu) – Hại: Thiệt hại. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Tai Chí: Tai hoạ đến.

– Tử Tuyệt: Chết mất.

– Bệnh Lâm: Mắc bệnh.

– Khẩu Thiệt: Mang hoạ vì lời nói.

*h) Cung thứ 8 (tốt) – Bản: vốn liếng, bản mệnh. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Tài Chí: Tiền của đến.

– Đăng Khoa: Thi đậu.

– Tiến Bảo: Được của quý.

– Hưng Vượng: Làm ăn thịnh vượng.

♣ – Thước Lỗ Ban loại dài 39 cm. (Dùng cho âm trạch.)

Thước dài 39 cm gọi là Đinh Lan Xích. Chủ yếu được dùng đo lường để kiến tạo Mộ Phần hoặc Bài Vị, Hoành phi, Câu đối, Bàn thờ Tổ Tiên.

Thước này chia làm 10 phần (cung), mỗi phần dài 3,9 cm. Có 6 cung tốt (màu đỏ) và 4 cung xấu (màu đen). Đi từ trái sang phải, thứ tự như sau:

*a) Cung thứ nhất (tốt) – Đinh: Con trai. Cung này chia thành 4 cung:

– Phúc Tinh: Sao Phúc.

– Cập Đệ: Thi đỗ.

– Tài Vượng: Được nhiều tiền của.

– Đăng Khoa: Thi đậu.

*b) Cung thứ 2 (xấu) – Hại: Thiệt hại. Cung này chia thành 4 cung nhỏ:

– Khẩu Thiệt: Mang hoạ vì lời nói.

– Bệnh Lâm: Mắc bệnh.

– Tử Tuyệt: Chết mất.

– Tai Chí: Tai hoạ đến.

*c) Cung thứ 3 (tốt) – Vượng: Thịnh vượng. Cung này chia chia thành:

– Thiên Đức: Đức của trời ban.

– Hỉ Sự: Gặp chuyện vui.

– Tiến Bảo: Được của quý.

– Nạp Phúc: Đón nhận phúc.

*d) Cung thứ 4 (xấu) – Khổ: Khổ đau, đắng cay. Cung này chia thành:

– Thất Thoát: Mất mát.

– Quan Quỉ: Chuyện xấu với chính quyền.

– Kiếp Tài: Bị cướp của.

– Vô Tự: không có con nối dõi.

*đ) Cung thứ 5 (tốt) – Nghĩa: Chính nghĩa, tình nghĩa. Cung này chia thành:

– Đại Cát: Rất tốt.

– Tài Vượng: Nhiều tiền của.

– Ích Lợi: Có lợi ích.

– Thiên Khố: Kho trời.

*e) Cung thứ 6 (tốt) – Quan: Quan chức. Cung này chia thành:

– Phú Quý: Giàu có.

– Tiến Bảo: Được của quý.

– Hoạnh Tài: Tiền của bất ngờ.

– Thuận Khoa: Thi cử thuận lợi.

*g) Cung thứ 7 (xấu) – Tử: Chết chóc. Cung này chia thành:

– Ly Hương: Xa cách quê nhà.

– Tử Biệt: Chia lìa chết chóc.

– Thoái Đinh: Mất con trai.

– Thất Tài: Mất tiền của.

*h) Cung thứ 8 (tốt) – Hưng: Hưng thịnh. Cung này chia thành:

– Đăng Khoa: Thi đậu.

– Quí Tử: Con giỏi, ngoan.

– Thiêm Đinh: Thêm con trai.

– Hưng Vượng: Làm ăn thịnh vượng.

*i) Cung thứ 9 (xấu) – Thất: Mất mát. Cung này chia thành:

– Cô Quả: Chịu phận cô đơn.

– Lao Chấp: Bị tù.

– Công Sự: Tranh chấp, thưa kiện ra chính quyền.

– Thoái Tài: Hao tốn tiền của, làm ăn thua lỗ.

* k) Cung thứ 10 (tốt) – Tài: Tiền của. Cung này chia thành:

– Nghinh Phúc: Đón nhận phúc đến.

– Lục Hợp: Sáu cõi đều tốt (Đông-Tây-Nam-Bắc và Trời-Đất).

– Tiến Bảo: Được của quý.

– Tài Đức: Có tiền của và có đức.

3) Sự ứng nghiệm của các cung thước Lỗ Ban.

Cung Tài: Nghĩa là tiền của, ứng nghiệm tốt nhất với cổng lớn, nơi đón nhận của cải từ ngoài vào.

Cung Bệnh: Ứng đặc biệt vào nhà vệ sinh. Nơi này thường là góc hung (xấu) của nhà. Đặt nhà vệ sinh.

Cung Ly: Chia lìa, rất kỵ cho cửa trong nhà. Cửa lọt vào chữ Ly, chồng thì làm ăn xa nhà, vợ gặp điều quyến rũ, con cái hoang đàng phá phách.

Cung Nghĩa: Rất tốt cho cổng lớn và cửa nhà bếp, cửa các phòng thông nhau thì không nên.

Cung Quan: Kỵ ở cổng lớn, vì tránh chuyện kiện tụng ra chính quyền, nhưng lại tốt ở cửa phòng riêng vợ chồng vì sẽ sinh con quí tử.

Cung Kiếp: Bị cướp, tượng trưng cho tai hoạ khách quan đến từ bên ngoài khiến hao tổn tiền của. Tránh ở cổng lớn, nhất là các cửa hàng, tiệm buôn càng nên lưu ý.

Cung Hại: Tượng trưng cho mầm xấu nhen nhúm từ bên trong, kỵ ở các cửa phòng trong nhà.

Cung Bản: Thích hợp cho cổng lớn.

– 4) Cách sử dụng Thước Lỗ Ban.

Khi dùng thước Lỗ Ban, luôn nhớ một quy định:

Đo khoảng trống thì đo thông thủy, đo khoảng kín thì đo phủ bì.

Như vậy đối với cửa thì đo trong lòng. Thông thủy là nước chảy. Khoảng rộng, hẹp của cửa là nơi vượng khí từ ngoài vào; cũng là chỗ xú khí bị đẩy ra ngoài. Đo chiều ngang cửa là hai mép trong khuông học. Đo chiều cao của cửa là mép dưới của thanh gỗ phía trên và mặt nền nhà.

Đo vật có khoảng kín như bàn, giường, ban thờ…thì đo phủ bì. Tức là đo hai mép ngoài.

Khi sử dụng, đôi lúc ta thường nhầm lẫn chức năng của hai thước, một số người chọn chỗ đỏ (tốt) của cả hai thước. Như vậy cũng được, vì độ chênh lệch không quá lớn. Xem ra lại được cả âm phù dương trợ!

Làm nhà theo Phong Thủy là biết cách vận dụng những yếu tố tự nhiên có lợi trong ngôi nhà mình ở. Điều mà ai cũng mong muốn ngôi nhà thực sự là một tổ ấm, có phúc lộc mãn đường, luôn được an khang thịnh vượng.

Mọi việc không có gì là tuyệt đối. Người luôn yêu cầu tuyệt đối, là tự làm khổ mình. Hãy để cuộc đời trở nên đơn giản hơn, phiên phiến mà sống. Bởi vậy, khi làm nhà cũng không nên quá cầu kỳ. Biết vận dụng phép quyền biến và hóa giải, ta sẽ đạt sở nguyện.

Chân thành cám ơn độc giả đã bớt chút thời gian quý báu của mình, để đọc cuốn sách nhỏ này. Rất mong được sự đóng góp của quý vị.

                                                 (Sưu tầm Nguyễn Quý Phong)

 

 

 


Trang 1/Tổng số 11

Bài viết cùng chuyên mục :

Xem thêm

Ảnh hưởng văn hóa phương Đông trong đời sống người Việt

Thuật ngữ phương Đông cho đến nay vẫn là đề tài gây tranh luận. Xuất phát …