Trang chủ / NguyenTamKhoi

NguyenTamKhoi

Lễ dâng hương 84 năm ngày Giỗ Cụ Nguyễn Xuân Lục

           Ngày 13 tháng 3 năm 2017, tức là ngày 16 tháng Hai năm Đinh Dậu, tại nhà Ông Ngánh trưởng Nguyễn Xuân Hà, Xã Sơn Dương, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ, đã tổ chức lễ dâng hương 84 năm ngày giỗ Cụ Nguyễn Xuân Lục.
            Cụ Nguyễn Xuân Lục thế thứ là Đời thứ 3 trong chi phái 04 dòng Họ Nguyễn Đình – Xã Sơn Dương, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ, thế hệ hiện tại các cháu mới sinh là đời thứ 10 trong Chi ngánh Họ.
           Hậu Duệ trong ngánh Họ và đại điện các chi nhánh khác đã đến dự đông đủ trong dịp dâng hương này trong không khí Tôn kính, xum vầy và đầm ấm.
(Ảnh chụp một số đại điện các đời thứ 5 ,6, 7)

Phong tục Tết của một số dân tộc

Việt Nam là một cộng đồng 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc có một kiểu ăn tết riêng, đôi khi kéo dài rất dài ngày tạo thành mùa gọi là mùa Tết. Mỗi dân tộc có phong tục đón Tết riêng, những phong tục ấy đôi khi chỉ là quan niệm may rủi, nhưng cũng là biểu hiện nét đặc trưng văn hoá riêng của dân tộc mình.

Tết Prơ-Giê-Râm của người Cơ Tu

Vào mùa xuân, lúc bắt đầu vụ mùa lúa mới, đồng bào các huyện Phước Sơn, Giằng, Hiên ở Quảng Nam tổ chức ăn Tết Prơ-giê-răm. Đây là ngày lễ lớn nhất trong năm. Nhà nhà đều trang trí hết sức đẹp đẽ. Các loại ghẻ, cung nỏ, giáo, mác, thanh la, trống, chiêng được lau chùi cẩn thận. ở nhà Guơi (nhà làng) người ta dựng cột đâm trâu bằng cây gạo trạm trổ, sơn vẽ đẹp mắt. Nhiều sinh hoạt văn hoá diễn ra tại nhà Guơi như kể chuyện, nhảy múa, hát dân ca. Con gái được dịp trao đổi tâm tình và rủ nhau chơi xuân kéo dài cả tháng…

Tết nhảy của người Dao

Người Dao ở Việt Bắc cho rằng, ngày đầu năm không được làm việc mà chỉ lo vui chơi, thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau. Nhà nào nhà ấy đều trang hoàng sáng sủa và dán nhiều câu đối bằng chữ Hán lên cột nhà hay trên các vách tường để đón mừng xuân.

Người Dao đón Tết bằng tết nhảy gọi là “Nhiang chằm Ðao” để rèn luyện sức khoẻ và võ nghệ. Tết nhảy bắt đầu trước tết Nguyên Ðán chừng vài ba hôm. Thanh niên phải tập các điệu múa, điệu nhảy, làm gươm đao bằng gỗ để múa. Tết nhảy, mỗi người phải nhảy múa đến hàng trăm lượt trong tiếng trống, tiếng thanh la giục giã…

Tết giọt nước của người Xơ Đăng

Người Xơ Đăng ở Kon Tum ăn tết rất giản dị và chỉ có hai tết rất giản dị và chỉ có hai tết chính là tết Giọt nước và tết Lửa. Tết Giọt nước vào khoảng tháng 3 dương lịch. Sau khi mãn mùa, người Xơ Đăng bắt đầu sửa sang lại các máng nước và tổ chức lễ “cúng máng” để cầu mong Thần nước (Yang Dak) ban cho dân làng năm mới được mùa, nước non đầy đủ.

Người trong buôn làng mang choé, nồi đồng ra tại các máng nước để lấy nước mang về nhà, đồng thời tổ chức ăn uống, vui chơi suốt mấy ngày liền. Riêng “Lễ cúng máng nước” cho buôn làng thì được tổ chức tại nhà Rông, do thầy cúng tổ chức vui say, ca hát, nhảy múa, gái trai được tự do trao đổi tâm tình.

Tết của người Mông (H’Mông)

Người H’Mông ở vùng cao Tây Bắc và Việt Bắc ăn tết rất thịnh soạn, chẳng kém gì ở miền xuôi. Trong nhà trang hoàng đủ màu sắc, nhưng màu đỏ là được ưa chuộng nhất. Tết Nguyên đán của người H’Mông gọi là NaoX-Cha. Ðể chuẩn bị sẵn con lơn béo. Ngoài thịt ra, còn có bánh bằng bột nếp, bánh chưng ít khi dùng. Tết của người H’Mông thường tổ chức giữa mùa đông giá rét, trước hay sau Tết dương lịch chỉ có mấy hôm. Ðêm giao thừa các gia đình thường cử con trai đi “mở nước”, tức là đi lấy nước ngoài sông suối đem về nhà cúng tổ tiên.

Tết của người Hrê

Tết của người Hrê ở Quảng Ngãi cũng kéo dài suốt vài tháng liền. Mỗi gia đình phải lo nấu bánh tét, làm rượu cho thật nhiều. Nhà giàu có phải nấu từ 20 đến 40 nồi bánh tét, ủ hàng trăm ché rượu cần, hạ vài con trâu để đãi khách và bà con trong buôn làng. Tất cả mọi người đều tề tựu về nhà chủ làng để ăn mừng, chúc tụng lẫn nhau. Sau đó mới lần lượt đến các nhà khác. Họ vừa ăn uống vừa múa hát. Ðàn ông thì đeo ống chinh, còn đàn bà thì đeo ống bương lấy hai tay vỗ vào đầu ống sẽ tạo thành tiếng bập bùng, bập bùng… Họ thích trò chơi nhảy kẹp. Hai người một nam, một nữ dùng một đòn nhảy dài chừng hai mét, trơn láng rồi đập vào nhau. Cứ hai người ngồi đập thì hai người nhảy, thay đổi cho nhau.

Tết bỏ mả của người Gia Rai

Tết bỏ mả của đồng bào Gia Rai ở tỉnh Gia Lai cũng tương tự như tết ăn nhà Mả của đồng bào Ba Na nhưng được tổ chức lớn hơn nhiều. Trong suốt thời kỳ Bỏ Mả, bà con trong buôn làng kéo nhau đi viếng từng nhà để thưởng thức của ngon vật lạ. Mỗi khi nghe tiếng thanh la, trống, cồng vang lên ở ngoài nghĩa địa là báo hiệu lễ Bỏ Mả. Người trong buôn nối đuôi nhau, tay cầm đuốc cháy sáng rực tiến về nghĩa địa để chia vui cùng người thân thuộc. Mọi người không quên mang theo rượu, thịt để góp vui cùng gia đình gia chủ trong suốt cuộc lễ. Tùy theo gia cảnh của từng người mà chủ lễ tổ chức đơn giản hay rườm rà. Gia chủ đứng trước ngôi mả có cắm cây nêu thường làm bằng cây gạo treo nhiều lá bùa xanh đỏ bay phấp phới theo chiều gió và đưa tay lên trời lâm râm khấn vái Yàng.

Tết của người Thái

Người Thái ở Sơn La và Lai Châu đón tết hầu như suốt cả mùa, gọi là mùa Tết. Ðầu tiên là tết Soong Sịp (tết cơm mới) sau khi lúa ở ngoài đồng đã chín vàng họ giết trâu, mổ lợn, lấy lúa mới đồ xôi nếp để cúng lễ. Mọi nhà đều tổ chức ăn uống vui vẻ. Sau tết Soong Síp là tết Kim Lao Mao (tết uống rượu), tết ông Táo và lớn nhất là tết Nen-Bươn-Tiền (tết Nguyên đán).

Vào ngày đầu năm, họ không quên đem dao, rựa vừa đi ra đường vừa phát quang để thông thoáng cho năm mới. Vui nhất là các hội Xoè Thái nổi tiếng, tha hồ vui chơi cho đến rằm tháng giêng mới mãn.

Tết Cơm mới của người Ê Ðê

Tết Cơm mới của người Rhadé hay Ê Đê ở Ðắk Lắk là vào khoảng tháng 10 dương lịch. Lúc ấy lúa đã chín vàng cả nương rẫy. Mỗi gia đình mang gùi đi tuốt lúa về phơi khô giã lấy gạo để tổ chức ăn mừng lúa chín. Tuỳ theo gia cảnh giầu hay nghèo mà các gia đình giết trâu, bò, heo, gà nhiều hay ít.

Lễ vật đặt ở giữa nhà gồm một hay hai choé rượu cần buộc chặt vào gốc cột và vài đĩa cơm. Gia chủ hay thầy cúng lầm rầm khấn vái: “Lạy thần Mtâo Kia, thần H’Bia Kiu, thần Aêdu, thần Alê Diê đã ban cho chúng con nào thóc lúa, nào kê, nào ngô. Chúng con thỉnh chư vị thần từ phía Ðông dãy Ngân Hà nơi gần nguồn gốc của lúa, xin giáng lâm chứng giám. Lạy thần Aê Nghi ở dưới đất, lạy thần Aê Ngăn ở trên trời… xin cho mỗi năm lúa được đầy vựa…”

Tết Yang Pa của người Chơ Ro

Người Chơ Ro và Chu Ru sinh sống tại Ðồng Nai, Lâm Ðồng và Bà Rịa – Vũng Tàu. Hai tết lớn của đồng bào Chơ Ro là lễ cúng thần rừng và lễ cúng thần lúa vào khoảng tháng ba âm lịch. Ngày cúng thần lúa cũng là lúc các cô gái trình cho buôn làng các loại bánh ngon như bánh tét, bánh ống, bánh dầy… Sau lễ cúng thần lúa tại nhà là bữa ăn tập thể do gia chủ đứng ra khoản đãi tại nơi hành lễ. Thường thường nơi cúng lễ là gốc cây cổ thụ trong buôn làng. Họ quan niệm thần lúa thường đến nghỉ ngơi ở đó.

Tết Nhô Lir Bông của người Cơ Ho

Người Cơ Ho hay sinh sống ở Lâm Ðồng. Họ ăn tết sau tết Nguyên Ðán của người Kinh ở miền xuôi độ một tháng, gọi là Nhô Lir Bông, tức tết mừng lúa về nhà. Tết này kéo dài cả tháng. Hai chữ Lir Bông có nghĩa là cót thóc. Người Cơ Ho rất quý trọng thóc lúa, vì thóc lúa là những hạt ngọc của Yàng ban phát. Lễ cúng mừng lúa được tổ chức tại kho lúa của mỗi gia đình, bắt đầu từ xế chiều với sự tham dự của chủ làng và nhiều gia chủ khác. Người ta lấy máu gà hiến sinh bôi lên vựa thóc, sàn kho, các cửa lớn, cửa sổ. Máu gà còn được trộn chung với vỏ cây đa, củ nghệ, các con mối đất. Cỏ tranh giã nhỏ để bôi lên ngực, lên trán những thành viên trong gia đình, sau đó còn bôi lên những đồ gia dụng.

Sau lễ cúng cót thóc trong gia đình, người Cơ Ho rủ nhau đi từ nhà này sang nhà nọ để ăn uống, ca hát, nhảy múa chung vui, cứ thế cho đến cả tháng trời mới mãn.

Lễ tết cổ truyền của người Chăm

Ðồng bào Chăm còn gọi là Chàm, hiện đang sinh sống tại một số tỉnh như Bình Thuận, Ninh Thuận và một số ít tại Châu Giang (tỉnh An Giang).

Cũng như các dân tộc anh em khác, người Chăm ăn Tết cũng rất linh đình, nhộn nhịp. Hai lễ lớn nhất trong năm là Păng-Katê và Păng-Chabư được xem như cái Tết của họ.

Păng-Katê cử hành vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm tức khoảng tháng 9 dương lịch và Păng-Chabư cử hành vào ngày 16 tháng 9 theo lịch Chăm tức vào khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch.

Vào những ngày lễ, đông đảo đồng bào Chăm từ các nơi dổ về tại ba nơi hành lễ: đó là đền Pô Nưgar, tháp Pô Rômê ở huyện Ninh Phước (Ninh Thuận) và tháp Pô Klông Garai ở thị xã Phan Rang – Tháp Chàm.

Tết Păng Katê là ngày tế lễ các vua Chăm thuở xa xưa có công dựng nước và hướng dẫn việc nông tang, thuộc về dòng họ người cha, tượng trưng cho khí dương, cho nên phải cử hành vào buổi mai, còn Tết Păng Chabư là lễ cúng tế các lễ thần Pô Giang nữ, tức các hoàng hậu, công chúa Chăm, thuộc dòng họ mẹ, tượng trưng cho khí âm nên được cử hành vào buổi chiều tối.

Sáng mồng một Tết, các chức sắc Chăm cùng toàn thể bà con xa gần đều tề tựu về ba nơi hành lễ, quần áo thật mới mẻ, chỉnh tề. Các thầy Cả và các bà Bóng ngồi theo phẩm trật, thứ tự cao thấp trong căn nhà dựng trước cửa đền hay cửa tháp.

Lễ cúng gồm có hoa quả, bánh trái đủ loại, cúng cơm, rượu và thịt. Ba nghi lễ gồm các thầy Cả sư, phó Cả sư, thầy Bà xế, thầy Kè-ke vừa kéo đờn Kanhi (đờn mai rùa) vừa xướng văn tế lễ. Còn các bà Bóng thì lo dâng rượu và múa mừng.

Người Chăm gồm có 2 ngành: Ngành theo đạo Bà la môn và ngành theo đạo Hồi. Ngành theo đạo Bà la môn rất kiêng cữ thịt bò, còn ngành theo đạo Hồi thì kiêng ăn thịt lợn.

Ngày tết, người Chăm theo đạo Hồi thường đến nhà thờ đạo Hồi vào ngày đầu năm để nghe chức sắc, đọc kinh Coran, cầu nguyện đấng Alah, sau đó các tín hữu ra sông, ra suối tắm tẩy uế những cái xui, cái xấu của năm cũ và rước cái mới, cái tốt lành của năm mới.

Ngày mồng 2 Tết là ngày dành riêng cho các chức sắc ăn tết tại nhà. Qua ngày thứ ba trở đi, cho đến ngày thứ 7 hay thứ 9 thì đến lượt mọi người tổ chức ăn tết, lần lượt từ nhà này sang nhà khác. Tuy nhiên, mỗi gia đình chỉ lựa chọn cho mình một ngày duy nhất trong khoảng thời gian qui định mà thôi.

Họ giết lợn, giết gà vịt, bày đủ loại hoa quả, bánh trái. Trong dịp Tết, người Chăm không có tục kiêng cữ cho nên bạn bè, hàng xóm trong dịp ở xa có thể đến chung vui một cách thoải mái. Trong thời gian ăn Tết, người Chăm còn tổ chức các trò vui chơi như múa quạt, tổ chức đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, bắn cung.

Ngoài hai lễ lớn trên, người Chăm còn có các lễ khác trong năm như: Lễ cúng thần nông vào tháng 4 theo lịch Chăm, cử hành vào các đền, tháp; lễ cầu đảo (Chakap Hiâu Kron) cử hành tại các đập nước hay ở các bờ sông, bờ suối; lễ cúng ruộng (Pô Phùm) để cầu cho ruộng lúa tốt tươi và lễ Tống ôn (Rija Nưgar) tổ chức vào mồng một tháng giêng theo lịch Chăm, để cầu cho làng xóm, gia đình được thịnh vượng, an khang.

Người Lô Lô đi ăn trộm lấy may
Người dân tộc Lô Lô ở Hà Giang quan niệm rằng thời khắc bước sang năm mới, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì cho năm mới sẽ gặp nhiều may mắn, ăn nên làm ra. Do đó, họ đi lấy trộm cầu may nhưng không lấy nhiều hay lấy những vật có giá trị.

Người Lô Lô đón Tết. Ảnh Vietnamtourism.
Với người Lô Lô sống ở huyện Đồng Văn thường sẽ lấy trộm mỗi thứ 12 cái, tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Còn với người Lô Lô ở Mèo Vạc thì số may mắn là số 3, có thể lấy trộm 3 củ tỏi, 3 lá rau.
Điều thú vị là khi đi lấy trộm vào đêm giao thừa, họ sẽ không rủ nhau mà lặng lẽ không để chủ nhà bắt được.
Người H’mông với tục vỗ mông
Vào dịp Tết, thanh niên trai gái H’mông thường hay tụ tập dưới chân núi để vui Xuân. Khi người con trai thích người con gái nào đó, sẽ vỗ mông cô gái và dắt tay tìm chỗ tâm tình thâu đêm suốt sáng.

Vỗ mông – cách người Mông tỏ tình và trao gửi yêu thương. Ảnh Lao động.
Ngoài ra, lễ hội Sải Sán hay Gầu Tào (hội cầu phúc) trong ngày Tết là lễ hội lớn nhất trong năm và thể hiện nét văn hóa đặc trưng không thể thiếu của người H’Mông. Lễ hội diễn ra rất nhiều hoạt động văn hoá như ném pao – một trong những trò người H’Mông rất thích, múa khèn, múa ô, hát ống, hát giao duyên…
Người Thái gọi hồn vào dịp Tết
Một tục lệ không thể thiếu và là nét đặc trưng của người dân tộc Thái vào ngày Tết là tục gọi hồn. Theo đó, vào tối 29 hoặc 30 Tết, mỗi gia đình sẽ thịt 2 con gà, một con cúng tổ tiên, một con gọi hồn cho những người trong nhà.
Thầy cúng sẽ lấy áo của từng thành viên trong nhà, bó chặt một đầu với nhau rồi vắt lên vai. Tay thầy cúng cầm một cây củi đang cháy, mang ra đầu làng và gọi hồn. Sau khi gọi khoảng 2-3 lần, thầy cúng về chân cầu thang của gia đình này gọi thêm một lần nữa. Cuối cùng, thầy cúng sẽ buộc một sợi chỉ đen vào tay từng thành viên của gia đình đó để trừ tà ma.
Người Pu Péo hò nhau “cướp” giọng gà
“Cướp giọng gà” là phong tục rất độc đáo của người Pu Péo ở Hà Giang. Khi đến thời khắc giao thừa, người Pu Péo phải canh chừng mấy chú gà trống, khi nào gà vỗ cánh, chuẩn bị gáy, họ đốt ngay một quả pháo, ném vào chuồng gà. Lũ gà giật mình, nhảy lên thi nhau gáy. Ngay lập tức, mọi người hò nhau hát vang trời để át tiếng gà gáy.
Người Pu Péo quan niệm: tiếng gà gáy vừa hay, vừa thiêng liêng, đánh thức cả ông mặt trời dậy. Vì thế, ai át được tiếng gà thì sang năm mới sẽ hát hay, gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.
Lễ bắt chồng ở Tây Nguyên
Khi Tết nguyên đán đến, đồng bào các dân tộc Chu Ru, Cil, Cơ Ho… ở Tây Nguyên vào mùa lễ hội bắt chồng.
Lễ bắt chồng phải diễn ra ban đêm. Khi thích một chàng trai nào đó, cô gái về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Gia đình sẽ đến nhà trai hỏi dạm.

Đại diện nhà gái đeo nhẫn vào cho chàng trai.
Nếu cả hai dòng họ đồng ý, cô gái sẽ đến đeo nhẫn vào tay người con trai vào một đêm đẹp trời. Trường hợp người con trai không thích có thể trả lại nhưng đến 7 ngày sau, cô gái lại chọn một đêm đẹp trời đến đeo nhẫn cho chàng trai và cứ thế lặp đi lặp lại cho đến khi chàng trai chấp nhận.
Trước khi cưới một ngày, buôn làng tổ chức một đêm hội gọi là “Đêm hội bắt chồng”. Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào mình, có một số câu luật độc đáo như: “Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước…”.
Ngày cưới chàng trai và cô gái rút nhẫn ra hôn nhẫn và đeo lại cho nhau. Sau lễ cưới 7 ngày, cô gái tháo nhẫn đưa mẹ chồng cất giữ và ngược lại nhẫn chàng trai do mẹ cô gái cất giữ.

Đàn ông phải dậy sớm nấu cơm
Với người Mông ở Si Ma Cai, Lào Cai, ngày thường, nấu cơm là nhiệm vụ của đàn bà con gái nhưng sáng mùng 1, đàn ông phải dậy nấu cơm và làm mọi việc từ cho lợn gà ăn, lấy nước, nói tóm lại là làm tất tần tật mọi việc. Cái lý của người Mông, nói như nghệ nhân Hoàng Chúng: “Khi đẻ ra một đứa con trai, mình mang cái rau rốn chôn ngay vào cột nhà, nếu con gái thì mình mang rau rốn chôn vào cột giường. Nên con trai là trụ của gia đình. Vì thế, tất cả mọi vịêc trong gia đình, người con trai phải chịu trách nhiệm để giữ được truyền thống cho cả năm”. Người Mông kiêng không ăn các loại rau vào ngày mùng 1 với suy nghĩ ngày đầu năm đã ăn rau thì coi như cả năm đấy mình chỉ có rau mà ăn thôi, không giàu sang được. Tết đến, cũng không được thổi lửa, huýt sáo. Làm thế có khác nào “gọi” gió bão về, năm ấy sẽ gió lớn, hoa màu đổ hết. Sáng sớm mùng 1 tết, ai dậy thì cứ âm thầm mà dậy, không được gọi nhau, vì nếu mà gọi nhau, sâu bọ nghe thấy sẽ dậy đồng loạt “nhỏm dậy” phá hoại ngô, lúa.
Hò nhau “Cướp” giọng gà..
Người Pu Péo ở Hà Giang có tục “Đón giọng gà” hay còn gọi là “Cướp giọng gà”. Khi giao thừa đến, sắp sang năm mới, người ta phải canh chừng mấy chú gà trống. Thấy gà vừa vỗ cánh, chuẩn bị gáy là người ta đốt ngay 1 quả pháo, ném vào chuồng gà. Lũ gà giật mình, nhảy lên thi nhau gáy. Ngay lập tức, mọi người hò nhau hát vang trời để át tiếng gà gáy. Người Pu Péo quan niệm: tiếng gà gáy vừa hay, vừa thiêng liêng, đánh thức cả ông mặt trời dậy. Vì thế, người Pu Péo muốn tiếng hát của mình át tiếng gà với niềm tin hồn nhiên: Người nào làm được như thế thì sang năm mới sẽ hát hay, gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.
Nếu đón tết ở bản làng người Pu Péo, là phụ nữ bạn chớ vội đi chúc tết vào sáng mùng 1. Chỉ đàn ông mới được vinh hạnh này. Con gái tuổi lấy chồng mà vào nhà người ta, đó là điều tối kỵ. Họ sợ năm ấy gặp điều xúi quẩy, rủi ro, làm ăn không phát tài. Còn con trai thì đến càng sớm, chủ nhà càng vui. Tất nhiên ai cũng mong ngóng người đến chúc Tết nhà mình phải là người khoẻ mạnh, lịch sự, làm ăn khấm khá.
Tranh nước mới
Sáng mùng 1, lúc 4-5 giờ, người Nùng ở vùng cao phía Bắc có tục đi tranh nước. Ai lấy được sớm thì nhà ấy có lộc nhiều. Người Pu Péo thì gọi đó là “nước vàng nước bạc”. Đi lấy nước là lấy lộc xuân. Nhưng trước khi lấy nước mang về người Pu Péo không quên thắp nén hương, cầu khấn thần nước cho chảy mãi. Gánh nước ấy, người Pu Pép mang thẳng về nhà, thay toàn bộ nước cũ. Lấy nước ấy rửa mặt, rửa xong đổ hết vào trong nhà, chứ không được đổ ra ngoài sân. Vì đó là nước bạc, nước vàng, là của cải.
Theo phong tục của người Tày ở Bắc Cạn, sáng mùng 1, ra giếng làng lấy nước phải bỏ tiền để mua nước. Khi nào có được 3 người bỏ tiền vào giếng thì người thứ 4 đi lấy nước được lấy số tiền đó mang về. Ai cũng mong mình là người thứ 4 để được may mắn cả năm.
Vào thời khắc giao thừa, người Cao Lan cũng xuất hành đi lấy nước về cúng gia tiên. Khi đi lấy nước, chủ nhà mang theo 1 thẻ hương để cầu khấn thần nước cho xin nước và phù hộ cho dân làng có đủ nước uống, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Nước sau khi cúng gia tiên, phần còn lại thường cho trẻ đang đi học uống 3 ngụm. Mỗi lần trước khi uống phải nín thở và có quyền ước lấy 1 điều. Người Cao Lan tin rằng: Những ngụm nước đó sẽ làm con người thông minh sáng dạ, học giỏi, có chí phấn đấu.
Càng dính nhiều tro càng nhiều may mắn
Tết cổ truyền của người Giẻ Triêng ở Kon Tum gọi là Cha chả, tức là ăn than. Trước tết ba ngày, ba chàng trai to khoẻ của làng được già làng cử lên rừng đốt củi thành những đống than lớn, mang về làng. Dân làng chờ sẵn. Người ta nấu xôi, vuốt lên cây giẻ khô rồi đốt lên. Mọi người xúm nhau hất tung hai loại tro đó, sao cho cho nó bay lên cao. Ai dính nhiều tro nhất thì sẽ may mắn, mùa màng sẽ tốt tươi. Mỗi người cầm một nắm xôi ném lên mái nhà. Nắm xôi của ai dính trên đó, chắc chắn người đó năm mới sẽ có 100 gùi lúa. Sau đó, người ta sẽ cất than đi. Sau hai ba ngày, người lớn trong gia đình sẽ lấy than đem đi mài dựa, dao, rìu để bắt đầu một mùa sản xuất mới.
Chúc tết bằng lời hát, tiếng cồng
Qua giao thừa, người Mường ở Tân Lạc, Hoà Bình đánh ba hồi chiêng. Sáng sớm, người chủ gia đình xuống dưới sân gọi trâu bò về chuồng với quan niệm: Sáng sớm gọi trâu bò về thì cái năm ấy gia đình có nhiều trâu hơn. Sáng sớm mùng 1, con gái con trai đều phải đi tắm để cởi bỏ hết tất cả những cái xấu của năm cũ. Sau đó, cầm cồng cầm chiêng, tấu vang bài cồng Xắc bùa, đến từng nhà hát Xắc bùa chúc tết. Tiếng cồng “bong, bính, bong…” rộn rã khắp mường khắp bản.
Lễ hội gội đầu… chiều mùng 1 tết
Người Thái trắng ở Quỳnh Nhai, Sơn la có hẳn một lễ hội gội đầu vào đúng 1 giờ chiều 30 tết. Tất cả già làng, trưởng bản, từ già đến trẻ hò nhau xuống bờ sông để tổ chức lễ gội đầu với mong muốn xua đi những nhọc nhằn, vất vả trong năm qua và cầu cho năm mới mạnh khỏe, mùa màng tươi tốt. Lễ gội đầu kết thúc là đến cuộc vui đua thuyền giữa nam và nữ. Người ta tổ chức ném còn, xòe vòng… Trai gái được dịp vui chơi thoả thích.
Phong tục đón tết của các dân tộc dù khác nhau nhưng đều có một điểm chung là trong những ngày đầu năm mới, mọi người đặc biệt quan tâm đến cách ứng xử với hàng xóm láng giềng, bạn bè và người thân trong gia đình. Ai cũng vui vẻ, hồ hởi, thân tình trong không khí ấm áp của mùa xuân. Ai cũng sợ to tiếng thì sẽ bị “dông” cả năm. Đón tết mừng xuân cho dù có khác nhau ở tục lệ nhưng lại đều gặp nhau ở tinh thần nhân văn, ở khát vọng ấm no, hạnh phúc và thịnh vượng

Tôn giáo và Tín ngưỡng ở Việt Nam

Ngoài tín ngưỡng dân gian, Việt Nam còn có một số tôn giáo lớn như: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hòa Hảo…
Ðạo Phật

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, đến đời Lý (thế kỷ thứ 11) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.
Cuối thế kỷ thứ 14, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.

Công giáo

Ðược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, nơi tập trung nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu – Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) và vùng Hố Nai – Biên Hoà (tỉnh Ðồng Nai). Số lượng tín đồ theo đạo Kitô chiếm khoảng trên 5 triệu người.
Ðạo Tin Lành

Ðược du nhập vào Việt Nam vào năm 1911 nhưng ít được phổ biến. Hiện nay, các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Da. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng trên 400 nghìn người.

Ðạo Hồi

Ðạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm ở miền Trung Trung bộ, có khoảng hơn 60 nghìn người.
Ðạo Cao Ðài

Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Ðài ở miền Nam. Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người.

Ðạo Hoà Hảo

Xuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người, chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.

Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu

Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân…, đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ).
Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này, Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc, vào đến miền Nam, “Ðạo” này đã hoà nhập “Mẫu” với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)

Trong thực tế việc thờ cúng của “Ðạo” Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đã và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi.

Kính tặng các thế hệ hậu duệ Cụ Nguyễn Xuân Cốc

                                          Tác giả : Bà Phạm Thị Sáu

Con cháu cụ Cốc – Sơn Dương

Sống tại Hà Nội chủ trương họp bàn

Hôm nay gặp mặt liên hoan

Ông bà cháu chắt liên hoan vui vầy

Mắt nhìn mắt tay cầm tay

Vui sao vui thế giờ này nhà ta

Nguyễn Đình- Dòng họ Ông Cha

Từ  bao thế hệ đang đà tiến lên

Cháu con khỏe mạnh thảo hiền

Dâu hiền Rể thảo giữ nguyên nếp nhà

Kính trọng Chú Bác Mẹ Cha

Anh em đoàn kết Ông  Bà nêu gương

Cho dù công tác muôn phương

Vẫn luôn nhớ tới tấm gương Ông Bà

Luôn nhớ lời dạy Ông Cha

Quyết tâm học tập để mà thành danh

Hôm nay ngày tốt tháng lành

Chúc con cháu khỏe học hành chăm ngoan

Làm cho dòng họ vẻ vang

Làm cho dòng họ ngày càng mạnh hơn./.

IMG_8059IMG_8069

Đọc thơ: Yêu quê hương

                                        Tác giả : Bà Phạm Thị Sáu

Sinh ra từ một làng quê

Chăn trâu cắt cỏ không nề sớm trưa

Còn nhỏ chưa biết cày bừa

Chỉ chăm học tập sớm trưa không nề

Lớn lên công tác xa quê

Con tim vẫn nhắc nhớ về quê hương

Vượt bao gian khó đường trường

Về quê mới thấy thân thương mặn nồng

Nơi đây nguồn  cội Cha Ông

Nuôi con khôn lớn theo dòng thời gian

Về quê lòng dạ xốn sang

Tắm trong ánh mặt họ hàng anh em

Mẹ Cha ở chốn thần tiên

Mãn nguyện nhìn thấy cháu con đủ đầy

Yêu quê xin được chung tay

Xây dựng xã tắc càng ngày đẹp hơn./.

IMG_8059IMG_8066

 

                                        

Gặp mặt 5 thế hệ Họ Nguyễn Đình tại Hà Nội

Lần đầu tiên 5 thế hệ hậu duệ của Cụ Nguyễn Xuân Cốc Khu vực Hà Nội gặp mặt tại Hội trường Bảo tàng không quân – Đường Trường Chinh, Hà Nội

Ông Nguyễn Xuân Hà đã ôn lại lịch sử dòng tộc, chỉ dẫn gia phả họ cho mọi người cùng nghe.

Dự kiến hàng năm sẽ tổ chức gặp mặt một làn vào dịp mùa xuân.

Con cháu nhận diện vai vế thế thứ anh em, vì là năm đầu tiên nên cũng chưa tổ chức mời được Chi ngánh Họ tại khu vực Sơn Tây, hi vọng gặp mặt lần sau sẽ tổ chức đông đủ và chu đáo hơn.

Hop dong huong

Hop dong huong 1

Theo thứ tự trái sang phải, hàng ghế ngồi: Chú Phong, Ông Dũng, Chú Hà, Chú Tuấn, Dì Sáu (Vợ Chú Tuấn). Hàng đứng: Khôi (Con Ông Huyên), Huyến (Con Ông Hà), Thuấn (Con Ông Tuấn).